vanban.org

Quyết định 23/2020/QĐST-KDTM — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân; địa chỉ: Số 28C-28D phố Bà Triệu, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K - Giám đốc Trung tâm xử lý nợ; (Văn bản uỷ quyền số 354B ngày 30/9/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2020/QĐST-KDTMThuỷ Nguyên, ngày 27 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào biên bản hoà giải thành ngày 19 tháng 5 năm 2020 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số: 27/2020/TLST-KDTM ngày 03 tháng 3 năm 2020.

XÉT THẤY:

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân; địa chỉ: Số 28C-28D phố Bà Triệu, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K - Giám đốc Trung tâm xử lý nợ; (Văn bản uỷ quyền số 354B ngày 30/9/2019).

- Bị đơn: Ông Bùi Văn C sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị M sinh năm 1962; cùng địa chỉ: Xóm X, xã T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Mi: Ông Bùi Văn C (Văn bản uỷ quyền chứng thực ngày 18 tháng 5 năm 2020).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Văn T sinh năm 1985;

Chị Nguyễn Thị Thanh T sinh năm 1991;

Chị Bùi Thị T sinh năm 1987;

Anh Bùi Đức T sinh năm 1994;

Cùng địa chỉ: Xóm X, xã T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng;

Người đại diện theo ủy quyền của anh Bùi Văn T, chị Nguyễn Thị Thanh T, chị Bùi Thị T và anh Bùi Đức T: Ông Bùi Văn C (Văn bản uỷ quyền chứng thực ngày 18 tháng 5 năm 2020).

2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 004/12/HĐTDNH/105-56/105154 ngày 04 tháng 6 năm 2012: Đến ngày 19 tháng 5 năm 2020 ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân tổng số tiền 692.816.702 đồng; trong đó nợ gốc 250.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.705.244 đồng, nợ lãi quán hạn 431.111.458 đồng.

- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày 20 tháng 5 năm 2020 cho đến khi thi hành án xong, ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

- Về phương án trả nợ: Ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân toàn bộ số nợ gốc, lãi trên trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 31 tháng 5 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 11 năm 2020, số tiền trả tối thiểu mỗi tháng 5.000.000 đồng vào nợ gốc.

Trường hợp ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M trả nợ đúng theo thỏa thuận ở trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân sẽ xem xét miễn giảm một phần tiền lãi suất quá hạn cho ông Chính bà Mười.

Trường hợp ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M vi phạm bất kỳ nghĩa vụ trả nợ nào như đã thỏa thuận ở trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 1489, tờ bản đồ số 02 diện tích 523m2 địa chỉ: Xóm Xanh Soi, xã Thủy Đường, huyện Thuỷ Nguyên, đứng tên người sử dụng là ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M, được Uỷ ban nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 527115 ngày 22 tháng 12 năm 2006, số vào sổ cấp giấy H/02079.

Trường hợp phát mại tài sản nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M được nhận lại theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Ông Bùi Văn C và bà Nguyễn Thị M nhận nộp toàn bộ 15.856.000 đồng. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc dân số tiền tạm ứng án phí 17.300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, biên lai số 0000672 ngày 03 tháng 3 năm 2020.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ