vanban.org

Quyết định 23/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn gữa chị H và anh V"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29/5/2020
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn’’

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Hồng

Ông Lê Anh Giàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Thanh– Kiểm sát viên

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chiến Trực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre

Ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh BT

(vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1981; Nơi cư trú: ấp C, xã P, thành phố BT, tỉnh BT

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị H trình bày:

Chị và anh V kết hôn vào năm 2013, hôn nhân do cả hai tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh BT. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 02/2019 thì mâu thuẩn phát sinh nguyên nhân là do chồng chị không quan tâm đến vợ con, vợ chồng thường hay say xỉn đánh đập và nhục mạ chị , … dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hai bên có bàn bạc tìm hướng giải quyết nhưng không được. Anh chị ly thân từ tháng 02/2019 đến nay. Tình cảm của chị đối với anh hiện không còn. Nay chị cương quyết xin được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh V, sinh ngày 14/5/2013 và Nguyễn Chí V1, sinh ngày 18/4/2018. Chị xin được nuôi hai con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: chị H khai không có

Nợ chung: chị H khai không có

Ngày 27/5/2020 chị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc không thể tham gia phiên tòa được.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã nhiều lần mời anh V đến để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh V vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn với anh V; chị H được tiếp tục nuôi hai con chung. Ghi nhận việc chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: chị H khai không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả của việc tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận thấy:

[1] Ngày 02/01/2019 chị Trần Thị Thu H có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn V, anh V đang cư trú tại thành phố Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre theo qui định tại các Điều 28, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải nhưng anh V không có mặt theo thông báo hòa giải nên không thể tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre cũng đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập, quyết định hoãn phiên tòa cho anh V để tham gia phiên tòa nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh V là phù hợp.

[3] Chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Văn V kết hôn năm 2013, hôn nhân do cả hai tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện C, tỉnh BT. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mâu thuẩn phát sinh từ 02/2019, nguyên nhân là do chồng chị không quan tâm đến vợ con, chồng thường hay say xỉn đánh đập và nhục mạ chị , … dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Hai anh chị có bàn bạc tìm hướng giải quyết nhưng không được. Anh chị ly thân từ tháng 02/2019 đến nay. Tình cảm của chị đối với anh hiện không còn. Nay chị cương quyết xin được ly hôn. Anh V không đến Tòa và cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[4] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh V, sinh ngày 14/5/2013 và Nguyễn Chí V1, sinh ngày 18/4/2018. Chị xin được nuôi hai con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: chị H khai không có nên không đặt vấn đề giải quyết.

[6] Về nợ chung: chị H khai không có nên không xem xét giải quyết.

[7] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng chị H phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 55, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 227, 228, 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H, cụ thể tuyên:

- Về hôn nhân: chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Nguyễn Văn V

- Về con chung: Chị H được tiếp tục nuôi 02 cháu tên Nguyễn Ngọc Khánh V, sinh ngày 14/5/2013 và Nguyễn Chí V1, sinh ngày 18/4/2018.

Ghi nhận việc chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một trong các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: cả hai khai không có nên không xem xét giải quyết

- Về nợ chung: cả hai khai không có nên không xem xét giải quyết

Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Trần Thị Thu H phải nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008541 ngày 13/01/20120 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Chị H đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ