- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích Phan Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2019/QĐST-VDS Ngày 27-9-2019 V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Thị Dương Thanh - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà Hương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 14/2019/TLST-VDS ngày 05 tháng 4 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 25/2019/QĐST-VDS ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966.
(Có mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phan Văn T, sinh năm 1963. Nơi ĐKNKTT: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
2. Anh Phan Anh T1, sinh năm 1995. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
3. Anh Phan Anh T2, sinh năm 2000. (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Nguyễn Thị L làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc tuyên bố mất tích đối với ông Phan Văn T. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk.
Làm việc tại Tòa án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Anh T1 và anh Phan Anh T2 khai: Chúng tôi là con đẻ của ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị L. Trong quá trình chung sống, bố mẹ chúng tôi không có xảy ra mâu thuẫn gì. Nhưng đến khoảng tháng 3 năm 2008 bố chúng tôi đã bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Chúng tôi và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần nhưng vẫn không có bất cứ thông tin gì của bố chúng tôi. Dù bố chúng tôi đã bỏ đi từ đó cho tới nay nhưng chúng tôi và gia đình đã cố gắng tìm kiếm nhưng không có kết quả. Do đó, mẹ chúng tôi bà Nguyễn Thị L đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố đối với bố tôi là ông Phan Văn T mất tích để mẹ chúng tôi có thể ly hôn đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố mất tích đối với bố chúng tôi là ông Phan Văn T.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và người tham gia tố tụng: Đã chấp hành đầy đủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 3 Điều 27, Điều 369, Điều 370, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc tuyên bố ông Phan Văn T mất tích. Các vấn đề khác bà Nguyễn Thị L không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc nhận định:
Bà Nguyễn Thị L có chồng là ông Phan Văn T, sinh năm 1963. Bà và ông Phan Văn T về sống chung với nhau từ năm 1995, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống ông bà có 02 người con chung là cháu Phan Anh T1, sinh năm 1995 và cháu Phan Anh T2, sinh năm 2000.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có xảy ra mâu thuẫn gì. Nhưng đến khoảng tháng 3 năm 2008 ông Phan Văn T đã bỏ nhà đi đến nay không rõ tung tích. Bà và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần nhưng vẫn không có bất cứ thông tin gì của ông T. Do đó, bà đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn T mất tích để bà có thể ly hôn đúng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, anh Phan Anh T1 và anh Phan Anh T2 là con của bà L và ông T đề nghị Tòa án xem xét tuyên bố mất tích đối với ông Phan Văn T theo quy định của pháp luật.
Theo biên bản xác minh ngày 16/4/2019 Công an xã Ea K xác nhận: “Ông Phan Văn T sinh năm 1963, nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk. Đến năm 2008, ông Phan Văn T đã bỏ đi khỏi địa phương không còn liên lạc gì với gia đình. Khi đi ông T không có thông báo cho chính quyền địa phương. Hiện nay ông Phan Văn T đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không nắm rõ và cũng không có tin tức gì”.
Ngày 03/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc đã tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 384, Điều 385 và khoản 2 Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đã hết thời hạn 4 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì về ông Phan Văn T.
Tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
…”
Như vậy, ông Phan Văn T đã biệt tích trên hai năm liền đến nay vẫn không có tin tức xác thực gì. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc tuyên bố ông Phan Văn T mất tích.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc và yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc tuyên bố ông Phan Văn T mất tích là hoàn toàn có cơ sở pháp luật. Vì ông T đã biệt tích trên hai năm liền đến nay vẫn không có tin tức xác thực gì.
Về chi phí đăng tin tìm kiếm ông Phan Văn T mất tích: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 3.725.000 đồng (Ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng tin tìm kiếm ông Phan Văn T người mất tích. Chi phí này đã được bà L giao nộp tại Tòa án vào ngày 16/4/2019 và đã được Tòa án đã chi phí xong. Đối với số tiền tạm ứng chi phí đăng tin còn lại 775.000 đồng đã được Tòa án hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L theo biên bản giao nhận ngày 09 tháng 9 năm 2019.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí Việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 149 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L.
Tuyên bố ông Phan Văn T, sinh năm 1963. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Tân Đ, xã Ea K, huyện Krông P, tỉnh Đắk Lắk mất tích.
Các vấn đề khác bà Nguyễn Thị L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
2. Về chi phí đăng tin tìm kiếm ông Phan Văn T mất tích: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 3.725.000 đồng (Ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền chi phí đăng tin tìm kiếm ông Phan Văn T người mất tích. Chi phí này đã được bà L giao nộp tại Tòa án vào ngày 16/4/2019 và đã được Tòa án đã chi phí xong. Đối với số tiền tạm ứng chi phí đăng tin còn lại 775.000 đồng đã được Tòa án hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L theo biên bản giao nhận ngày 09 tháng 9 năm 2019.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L phải chịu lệ phí Việc dân sự sơ thẩm 300.000đồng, được khấu trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0011178 ngày 04/4/2019 đã nộp tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra Quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Pắc; - THADS huyện Krông Pắc; - Người yêu cầu; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, VT. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phan Thị Dương Thanh |