vanban.org

Quyết định 229/2024/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: bà Trần Th.

Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Th. Ph. U và ông Nguyễn Kh. Th thuận tình ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trần V. D, sinh ngày: 20/8/2009 và Nguyễn Trần Ph. A, sinh ngày: 14/6/2020. Khi ly hôn, bà U và ông Th thỏa thuận giao 02 con cho bà Trần Th. Ph. U trực tiếp nuôi dưỡng. Ôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — ""Ly hôn" giữa bà Trần Th. Ph. U với ông Nguyễn Kh. Th"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: bà Trần Th.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT
TỈNH LÂM ĐỒNG
Số: 229/2024/QĐST-HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Đà Lạt, ngày 03 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

- Căn cứ vào hồ sơ vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 349/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” giữa: Nguyên đơn: Bà Trần Th. Ph. U, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Tổ A, thôn L, xã X, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Bị đơn: Ông Nguyễn Kh. Th, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Tổ A, thôn L, xã X, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 và Điều 84 - Luật hôn nhân gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 24 tháng 5 năm 2024.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 24 tháng 5 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: bà Trần Th. Ph. U và ông Nguyễn Kh. Th. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Th. Ph. U và ông Nguyễn Kh. Th thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trần V. D, sinh ngày: 20/8/2009 và Nguyễn Trần Ph. A, sinh ngày: 14/6/2020. Khi ly hôn, bà U và ông Th thỏa thuận giao 02 con cho bà Trần Th. Ph. U trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Kh. Th thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thành niên với số tiền 4.000.000đ/tháng (Bốn triệu đồng/tháng), mỗi con là 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đồng/tháng), thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân gia đình. Căn cứ Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, kể từ ngày bên được thi hành án dân sự có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền chưa thi hành án.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: bà U và ông Th cùng xác định, vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Bà Trần Th. Ph. U tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000753 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, bà U đã nộp đủ án phi sơ thẩm. 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ