vanban.org

Quyết định 225/2019/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 23/08/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H (Giấy chứng nhận kết hôn số 120 do Ủy ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/10/2013 không còn giá trị pháp lý). Về quan hệ con chung: ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H xác định có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Thuận tình ly hôn giữa ông T, bà H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN S – TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 225 /2019/QĐST-HNGĐSơn Trà, ngày 23 tháng 8 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S – TP. ĐÀ NẴNG

Căn cứ các Điều 212, 213 và Điều 397 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 198/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2019 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình:

+ Ông Hồ Văn T– Sinh năm: 1992

Nơi cư trú: 29 Tân Thái 4, tổ 13 phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng.

+ Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm: 1989

Nơi cư trú: 29 Tân Thái 4, tổ 13 phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, quận S, TP. Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 120 cấp ngày 07/10/2013. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tại phiên hòa giải, ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H xác định: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại 29 Tân Thái 4, tổ 13 phường M, quận S, TP. Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, hai bên không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Nay ông T, bà H xác định không còn yêu thương nhau nữa nên đề nghị Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn cho ông, bà.

Xét yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng ông T, bà H lại không làm được điều này. Tại phiên hòa giải thì ông bà đều xác định không còn tình cảm với nhau. Xét thấy, hiện mâu thuẫn của ông T và bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông T, bà H là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H xác định có 02 con chung: Hồ Hoàng Q – sinh ngày: 12/7/2015, Hồ Hoàng A – sinh ngày: 20/9/2018. Ly hôn ông bà thỏa thuận giao con Hồ Hoàng Q cho ông Hồ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Giao con Hồ Hoàng A cho bà Nguyễn Thị Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của ông bà là thỏa thuận tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

Về tài sản chung: Ông T, bà H xác định không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Các vấn đề khác: ông T, bà H xác định không có nợ chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H mỗi người phải chịu 150.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0008039 ngày 15/8/2019.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H (Giấy chứng nhận kết hôn số 120 do Ủy ban nhân dân phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 07/10/2013 không còn giá trị pháp lý).

- Về quan hệ con chung: ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H xác định có 02 con chung: Hồ Hoàng Q – sinh ngày: 12/7/2015, Hồ Hoàng A – sinh ngày: 20/9/2018. Ly hôn ông bà thỏa thuận giao con Hồ Hoàng Q cho ông Hồ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Giao con Hồ Hoàng A cho bà Nguyễn Thị Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự được thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: ông T, bà H xác định không có.

- Về các vấn đề khác: ông T, bà H xác định không có nợ chung.

2. Về Lệ phí Tòa án: Lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng, ông Hồ Văn T và bà Nguyễn Thị Xuân H mỗi người phải chịu 150.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận S, thành phố Đà Nẵng theo biên lai thu số 0008039 ngày 15/8/2019.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ