- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Ngô Gia N và ông Cao Hoàng
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 2235/2021/QĐST-HNGĐ | Thành phố Thủ Đức, ngày 30 tháng 11 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số:
1145/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Ngô Gia N, sinh năm 1996
Địa chỉ: Số 213 đường M, Tổ N, Khu phố C, phường H.P, thành phố Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Cao Hoàng H, sinh năm 1997
Địa chỉ: Số 213 đường M, Tổ N, Khu phố C, phường H.P, thành phố Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày
22 tháng 11 năm 2021.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong
biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 22 tháng 11 năm
2021 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo
đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly
hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Ngô Gia N và ông Cao Hoàng
H.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về con chung: Giao bà Ngô Gia N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục người con chung tên Cao Bảo V, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2020. Ông Cao
Hoàng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng, việc giao
nhận tiền cấp dưỡng do hai bên tự thực hiện vào ngày 02 (dương lịch) hàng
tháng, bắt đầu từ tháng 12 năm 2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bà Ngô Gia N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Cao Hoàng
H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng
tháng còn phải chịu khoản lãi đối với số tiền cấp dưỡng chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Cao Hoàng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản
trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì bà Ngô Gia N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của ông Cao Hoàng H.
Bà Ngô Gia N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông
Cao Hoàng H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức tiền cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc của người không trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Ngô Gia N và ông Cao Hoàng H xác định không có.
Nợ chung: Bà Ngô Gia N và ông Cao Hoàng H tự khai không có.
Về án phí: Bà Ngô Gia N, ông Cao Hoàng H mỗi người phải chịu 75.000
đồng án phí ly hôn. Bà Ngô Gia N tự nguyện nộp thay án phí ly hôn cho ông Cao Hoàng H nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng mà bà Ngô Gia N đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng số: AA/2021/0024075 ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Ngô Gia N được hoàn lại 150.000 đồng.
3. Giấy chứng nhận kết hôn số 63, đăng ký ngày ngày 24 tháng 6 năm
2019 do Ủy ban nhân dân phường H.P, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Ngô Gia N và ông Cao Hoàng H không còn giá trị pháp lý.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và
không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - UBND phường H.P, Quận X; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Trần Thị Lệ Quyên |