vanban.org

Quyết định 220/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 25/12/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Võ Văn T về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1972, địa chỉ cư trú cuối cùng tổ 23, KV 3, phường N, TP. Quy Nhơn mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 220/2019/QĐST-VDSQuy Nhơn, ngày 25 tháng 12 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đoàn Thị Xuân Hương

Thư ký phiên họp: Bà Phan Trúc Phương – Thư ký TAND TP.Quy Nhơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Quy Nhơn tham gia phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp.Quy Nhơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 151/2019/TLST- VDS ngày 24 tháng 7 năm 2019 về việc “Tuyên bố một người mất năng tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 192/2019/QĐST-VDS ngày 16 tháng 12 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Võ Văn T, sinh năm: 1971

Địa chỉ: Tổ 23, KV 3, phường N, TP.Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Anh Võ Văn T và chị Nguyễn Thị Ú có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, TP. Quy Nhơn vào năm 1992. Sau khi kết hôn anh chị về sinh sống tại tổ 23, khu vực 3, phường N, TP. Quy Nhơn. Đến tháng 02 năm 2014 chị Ú tự ý bỏ nhà đi đâu anh T không biết. Anh T đã yêu cầu Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã có Quyết định số 42/2019/QĐST-VDS ngày 24/4/2019 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với chị Nguyễn Thị Ú. Nhưng từ đó đến nay chị Ú vẫn không có liên lạc gì với gia đình và anh T cũng không có tin tức gì về chị Ú.

Hiện nay chị Ú sinh sống ở đâu anh T không biết, anh đã thông báo tìm kiếm chị Ú trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về chị Ú. Do đó anh T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích.

Trong quá trình sống chung anh T và chị Ú có 01 con chung tên Võ Thành V, sinh năm 1993, hiện nay đã trưởng thành.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết việc dân sự, kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự và đề nghị căn cứ các Điều 387, 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu của anh Võ Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Tp.Quy Nhơn nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Võ Văn T có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích, người bị yêu cầu là chị Ú, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng là tổ 23, khu vực 3, phường N, TP. Quy Nhơn nên Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý, giải quyết theo khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo đơn yêu cầu của anh Võ Văn T về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1972 mất tích, ngày 31/7/2019 Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn đã ra Quyết định số 151/2019/QĐ-TAThông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích để thông báo tìm kiếm tin tức của chị Nguyễn Thị Ú trên các phương tiện thông tin đại chúng. Anh Võ Văn T đã làm đủ thủ tục nhắn tin theo đúng quy định của pháp luật. Cụ thể là nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 22, 23, 24 tháng 8 năm 2019; nhắn tin trên Báo Thanh niên ba số liên tiếp 5, 6, 7 tháng 8 năm 2019 và trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Thời hạn nhắn tin tìm kiếm là 04 tháng nhưng từ khi nhắn tin tìm kiếm đến nay vẫn không xác định được tin tức của chị Nguyễn Thị Ú. Qua xác minh tại địa phương thì Công an phường N xác nhận chị Nguyễn Thị Ú vắng mặt tại địa phương từ năm 2014 cho đến nay. Thông tin này cũng phù hợp với lời trình bày của anh Võ Văn T. Do đó, yêu cầu của anh Võ Văn T về việc yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú mất tích là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 27, Điều 387, 388 và Điều 389Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Võ Văn T phải chịu theo quy định

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, khoản 2 điều 39 Điều 367, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Võ Văn T về yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

1. Tuyên bố chị Nguyễn Thị Ú, sinh năm: 1972, địa chỉ cư trú cuối cùng tổ 23, KV 3, phường N, TP. Quy Nhơn mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Võ Văn T phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001727 ngày 24 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Anh T đã nộp đủ lệ phí.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ