vanban.org

Quyết định 22/2026/QĐST-LĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, 367, 370, 371, 372, 401, 402 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 29 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 52 Bộ luật lao động 2012; Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật lao động năm 201…

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chủ sử dụng lao động là Công ty TNHH M1 với người lao động tên Phạm Thị H (do chị Phạm Thị P giao kết hợp đồng) là vô hiệu. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "Phạm Thị H- Công ty TNHH M1"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, 367, 370, 371, 372, 401, 402 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 29 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 52 Bộ luật lao động 2012; Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật lao động năm 201…
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2026/QĐST - LĐHải Phòng, ngày 28 tháng 5 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Hà;

- Thư ký phiên họp: Bà Triệu Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Lương Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số 23/2026/TLST-VLĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc “Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số 07/2026/QĐST-VLĐ ngày 07/5/2026, Quyết định hoãn phiên họp số 09/2026/QĐST-VLĐ ngày 11/5/2026 và thông báo thay đổi thời gian phiên họp, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu: Chị Phạm Thị H, sinh ngày 17/11/1987; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Hải Dương - nay là xã T, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Công ty TNHH M1. Địa chỉ: Số D đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương - nay là phường T, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Li Fung L- Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Zou Rui Q-Giám đốc điều hành (vắng mặt).

2.2. Bảo hiểm xã hội cơ sở H3. Địa chỉ: Số G đường T, phường H, thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quý Q1- Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn K- Phó giám đốc (vắng mặt).

2.3 Chị Phạm Thị P, sinh ngày 17/10/1990; CCCD số xxxxxxxxxxx; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quang Ninh - nay là phường B, tỉnh Quảng Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG:

1. Tại đơn yêu cầu và biên bản lấy lời khai, người yêu cầu chị Phạm Thị H trình bày: Chị là chị gái của chị Phạm Thị P. Cuối năm 2007, chị cho chị Phạm Thị Phương M chứng minh thư nhân dân số xxxxxxxxx để làm hồ sơ xin việc. Chị P làm hồ sơ mang tên chị để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH M1 và được Công ty H3, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 12 năm 2007, mã số bảo hiểm 03008002961. Đến tháng 01 năm 2011, chị P nghỉ việc. Chị đã đến cơ quan bảo hiểm xã hội huyện H3 để rút tiền bảo hiểm xã hội một lần theo Quyết định số 020104/QĐ ngày 14/3/2012 với số tiền là 4.873.374đ và đã sử dụng hết. Thực tế trong khoảng thời gian từ tháng 7/2006 đến tháng 2/2013 chị ký hợp đồng lao động với công ty TNHH P1 và được công ty P1 đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, được cấp mã số bảo hiểm là 8606010606. Sau đó, chị làm việc tại một số công ty khác nhưng lại dùng sổ bảo hiểm mã 03008002961 để tham gia quá trình đóng bảo hiểm, cụ thể: Thời gian từ tháng 10/2013 đến tháng 2/2016 và tháng 01/2017 đến tháng 10/2019 làm việc tại công ty TNHH G, địa chỉ: T, B, Hải Dương (cũ); Thời gian từ tháng 01/2025 đến tháng 5/2025 làm việc tại công ty TNHH S, địa chỉ: K, QL5, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương (cũ) (trước đây là công ty TNHH P1).

Chị nhận thức việc chị P lấy hồ sơ tên của chị để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M1 là gian dối, vi phạm nguyên tắc trung thực và hiện nay trên hệ thống bảo hiểm xã hội, chị đang tham gia bảo hiểm bằng 02 mã số bảo hiểm xã hội 03008002961 và 8606010606. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án: Tuyên bố Hợp đồng lao động đứng tên Phạm Thị H nhưng do chị Phạm Thị Phương K1 với Công ty TNHH M1 là vô hiệu, hoàn trả số tiền đóng bảo hiểm theo quy trình thoái thu cho công ty và chị đồng ý trả lại số tiền 4.873.374đ cho cơ quan bảo hiểm.

Đối với thời gian chị làm việc ở các công ty khác nhưng sử dụng sổ bảo hiểm mã 03008002961 để tham gia quá trình đóng bảo hiểm, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

2. Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ý kiến của chị Phạm Thị P: Chị là em ruột của chị Phạm Thị H. Cuối năm 12/2007 chị có mượn chứng minh nhân dân của chị H1 để làm hồ sơ xin việc và làm việc tại Công ty TNHH M1, thời gian từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 01 năm 2011 thì nghỉ việc. Công ty TNHH M1 có đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và đã được Cơ quan bảo hiểm xã hội cấp mã số sổ bảo hiểm là 03008002961 mang tên là Phạm Thị H. Trong thời gian làm việc tại Công ty M1, chị đã được hưởng chế độ thai sản thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 8/2010 tại Văn phòng BHXH tỉnh H cũ với số tiền là 7.325.000đ. Chị H1 thực tế không làm việc tại Công ty TNHH M1 mà làm việc ở công ty khác và được cấp mã số bảo hiểm 8606010606. Từ khi nghỉ làm tại Công ty TNHH M1, chị không sử dụng chứng minh thư của chị H để ký hợp đồng lao động mới với công ty khác. Do thời gian đã lâu nên hợp đồng lao động và thông báo chấm dứt hợp đồng lao động bị mất nên không còn để cung cấp cho Tòa án. Nay chị đồng ý với yêu cầu của chị H là tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH M1 với tên Phạm Thị H (do chị ký) vô hiệu, hoàn trả số tiền đóng bảo hiểm cho Công ty TNHH M1 theo quy trình thoái thu của H3 và chị đồng ý hoàn trả số tiền hưởng chế độ thai sản 7.325.000đ cho cơ quan bảo hiểm nếu có yêu cầu. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác và chị xin được vắng mặt tại phiên họp.

- Ý kiến của Công ty TNHH M1 thông qua người đại diện: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 1/2011, công ty có ký hợp đồng lao động với người mang tên Phạm Thị H, sinh ngày 17/11/1987, số CMTND xxxxxxxxx. Công ty tham gia đóng BHXH, BHTN cho người lao động tên Phạm Thị H theo quy định. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu, hồ sơ sổ sách đã bị thất lạc nên không cung cấp được cho Tòa án hợp đồng lao động và các tài liệu liên quan. Nay chị Phạm Thị H cho rằng đã cho chị Phạm Thị H2 mượn chứng minh nhân dân, mượn tên để ký hợp đồng lao động với công ty nên đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả, quan điểm của Công ty là đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật và xin được giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của Bảo hiểm xã hội cơ sở H3 thông qua người đại diện:

* Căn cứ dữ liệu Hệ thống quản lý thu và sổ thẻ, Hệ thống quản lý chính sách của ngành, BHXH cơ sở H3 xác nhận có thông tin về người lao động:

[1]. Phạm Thị H, sinh ngày 17/11/1987, số CCCD xxxxxxxxxxxx, mã sốBHXH 3008002961, có thời gian tham gia đóng BHXH BHTN từ tháng 12/2007 đến tháng 01/2011, tại Công ty TNHH M1; từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2019 tại Công ty TNHH G; từ tháng 01/2025 đến tháng 05/2025 tại Công ty TNHH S (có kèm theo Bản ghi quá trình đóng BHXH,BHTN); đã được cấp sổ BHXH (số CMND xxxxxxxxx) và cấp tờ rời chốt sổ xác nhận quá trình tham gia.

Đã được giải quyết hưởng chế độ BHXH một lần tại BHXH huyện B (cũ) theo Quyết định số 020104/QĐ ngày 14/03/2012, với số tiền 4.873.374 đồng đối với quá trình từ 12/2007 - 01/2011; đã được giải quyết hưởng chế độ thai sản (sinh con) 3 lần từ tháng 04/2010 - 08/2010 tại Văn phòng BHXH tỉnh H (cũ), từ tháng 03/2016

- 08/2016 và từ tháng 10/2017 - 03/2018 tại BHXH huyện B (cũ); không có thông tin dữ liệu hưởng trợ cấp thất nghiệp.

- Đồng thời cũng có thông tin Phạm Thị H, sinh ngày 17/11/1987, số CMND xxxxxxxxx, mã số BHXH 8606010606, có thời gian tham gia đóng BHXH BHTN từ tháng 07/2006 - 02/2013 tại Công ty TNHH P1; đã được cấp sổ BHXH và cấp tờ rời chốt sổ xác nhận quá trình.Có thông tin dữ liệu đã hưởng chế độ BHXH một lần và đã hưởng trợ cấp thấtnghiệp hết quá trình từ tháng 07/2006 - 02/2013.

- Thời gian trùng đóng BHXH, BHTN tại 02 công ty khác nhau, giữa 02 mã số BHXH khác nhau nêu trên là từ tháng 12/2007 đến tháng 01/2011.

[2]. Phạm Thị P, sinh ngày 17/10/1990, số CMND xxxxxxxxx, mã số BHXH 3011057055, có thời gian tham gia đóng BHXH, BHTN từ tháng 11/2011 - 02/2013 tại Công ty TNHH P1 (có kèm theo Bản ghi quá trình đóng BHXH,BHTN); đã được cấp sổ BHXH và cấp tờ rời chốt sổ xác nhận quá trình tham gia.

Đã được giải quyết hưởng chế độ thai sản (sinh con) từ tháng 10/2012 - 02/2013 tại Văn phòng BHXH tỉnh H (cũ); không có thông tin dữ liệuhưởng chế độ BHXH một lần và trợ cấp thất nghiệp.

Đồng thời cũng có thông tin Phạm Thị P, sinh ngày 17/10/1990, sốCCCD xxxxxxxxxxxx, mã số BHXH 2221914695, có thời gian tham gia đóng BHXH BHTN từ tháng 07/2020 - 08/2020 tại Công ty TNHH S1 (do BHXH huyện K cũ quản lý tính thu), từ tháng 01/2026 đến nay (05/2026) tại Công ty TNHH MTV F (do BHXH cơ sở Đông Triều quản lý tính thu); đã được cấp sổ BHXH (số CMND xxxxxxxxx) và cấp tờ rời chốt sổ xác nhận quá trình tham gia từ tháng 07/2020 - 08/2020. Không có thông tin dữ liệu hưởng chế độ BHXH một lần và trợ cấp thất nghiệp.

[3]. Quan điểm giải quyết vụ việc:

- Chị H cho chị P mượn CMND để làm hồ sơ xin việc và giao kết hợp đồng lao động với công ty M1 và được đóng BHXH, BHTN, đây là hành vi vi phạm pháp luật, gian dối và vi phạm nguyên tắc trung thực khi ký hợp đồng lao động. Tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật lao động năm 2019 mới có quy định về hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp người giao kết hợp đồng vi phạm nguyên tắc trung thực. Còn Bộ luật lao động năm 2012 không có quy định về hợp đồng lao động bị vô hiệu toàn bộ khi vi phạm nguyên tắc trung thực, Bộ luật lao động năm 1994 không quy định về hợp đồng lao động vô hiệu, trong khi đó vụ việc này các bên ký hợp đồng lao động vào năm 2007.

Mặt khác, tại khoản 1 Điều 401 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có quy định: “Người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu khi có căn cứ theo quy định của của Bộ luật lao động”.

- Về xử lý số tiền bảo hiểm do Công ty TNHH M1 đã đóng cho người lao động tên Phạm Thị H: Trường hợp Tòa án phán quyết hoàn trả số tiền bảo hiểm đã đóng cho Công ty TNHH M1, thì số tiền này được xác định theo tỷ lệ đóng BHXH, BHTN của từng thời điểm và theo quy trình thoái thu của ngành BHXH. Tuy nhiên, do sổ BHXH mã số 3008002961 có thời gian đóng BHXH BHTN từ tháng 12/2007

- 01/2011, đã được giải quyết hưởng chế độ BHXHmột lần tạiBHXH huyện B (cũ) và đã được giải quyết hưởng chế độ thai sản (sinh con) từ tháng 04/2010 - 08/2010 tại Văn phòng BHXH tỉnh H (cũ). Vì vậy, nếu phải thoái thu số tiền cho Công ty TNHH M1 đã đóng, thì chị P (đứng tên chị H) phải hoàn trả lại số tiền đã hưởng sai các chế độ về quỹ BHXH cho cơ quan BHXH nơi đã giải quyết.

BHXH cơ sở H3 đề nghị TAND khu vực 8 - Hải Phòng xem xét căn cứ các quy định của pháp luật, việc đóng/hưởng BHXH BHTN, cũng như hành vi đã vi phạm pháp luật của các đương sự để giải quyết vụ việc theo thẩm quyền và giải quyết hậu quả đảm bảo tính khả thi khi thi hành phán quyết.

Tại phiên họp:

- Các đương sự đều đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hải Phòng phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký phiên họp, các đương sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H. Tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là hoàn trả cho Công ty TNHH M1 tổng số tiền bảo hiểm đã đóng theo quy trình thoái thu. Chị Phạm Thị H hoàn trả lại số tiền 4.873.374 đồng và chị Phạm Thị P hoàn trả số tiền 7.325.000đ cho Bảo hiểm xã hội cơ sở H3. Chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng nhận định:

. Về tố tụng:

Người yêu cầu có đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng lao động, nơi thực hiện hợp đồng tại trụ sở của Công ty TNHH M1, có địa chỉ: Số D đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương - nay là phường T, thành phố Hải Phòng nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 33, Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Các đương sự đều có đơn, có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

. Về nội dung:

. Về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu: Hiện, các đương sự đều không cung cấp được văn bản hợp đồng lao động. Tuy nhiên căn cứ Bảng ghi quá trình đóng BHXH, BHTN của mã số bảo hiểm 03008002961 và sự thừa nhận của các đương sự có căn cứ xác định có hợp đồng lao động giữa bên chủ sử dụng lao động là Công ty TNHH M1 với bên người lao động chị Phạm Thị P nhưng hồ sơ mượn tên Phạm Thị H, thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 01/2011.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thể hiện: “…Trường hợp ngườilao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi viphạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ L2 động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao độngtheo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy địnhtại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồnglao động vô hiệu toàn bộ…”. Chị P mượn hồ sơ cá nhân của chị H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo mã số bảo hiểm là 03008002961 từ tháng 12/2007 đến tháng 01/2011 tại Công ty TNHH M1 là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động. Vì vậy, yêu cầu của chị H đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa người lao động đứng tên Phạm Thị H (do chị Phạm Thị Phương K1) và Công ty TNHH M1 vô hiệu là có căn cứ và được chấp nhận.

. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu:

Quá trình chị P mượn tên của chị H làm việc tại Công ty TNHH M1, Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội theo mã số bảo hiểm là 03008002961. Trong thời gian làm việc tại công ty TNHH M1, chị P đã nghỉ chế độ thai sản và được cơ quan bảo hiểm chi trả chế độ với số tiền 7.325.000đ trong thời gian từ tháng 4/2010 đến tháng 8/2010. Sau khi chị P nghỉ việc tại công ty M1, chị H đến cơ quan bảo hiểm xã hội huyện H3 để rút tiền bảo hiểm xã hội một lần theo Quyết định số 020104/QĐ ngày 14/3/2012 với số tiền là 4.873.374đ đối với quá trình từ tháng 12/2007 đến tháng 01/2011.

Căn cứ vào tài liệu ghi quá trình đóng BHXH, BHTN của mã số bảo hiểm là 03008002961 và cung cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh H có căn cứ xác định công ty TNHH M1 đã đóng bảo hiểm xã hội cho chị Phạm Thị P (đứng tên hồ sơ là Phạm Thị H) thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 01/2011. Nay, chị H và chị P đều thống nhất hoàn trả số tiền đã nhận cho cơ quan bảo hiểm để thực hiện quy trình thoái thu bảo hiểm xã hội cho Công ty T. Xét yêu cầu này của đương sự là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy cần phải hoàn trả cho Công ty TNHH M1 số tiền bảo hiểm đã đóng theo tỷ lệ và quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội, đồng thời chị H hoàn trả số tiền 4.873.374đ và chị P phải hoàn trả số tiền 7.325.000đ cho Bảo hiểm xã hội cơ sở H3.

. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị H phải chịu lệ phí sơ thẩm việc dân sự.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 33, Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, 367, 370, 371, 372, 401, 402 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 127, 132 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 29 Bộ luật lao động năm 1994; Điều 52 Bộ luật lao động 2012; Điều 15, 16, 49, 50, 51 Bộ luật lao động năm 2019; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. [2]. Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị H.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chủ sử dụng lao động là Công ty TNHH M1 với người lao động tên Phạm Thị H (do chị Phạm Thị P giao kết hợp đồng) là vô hiệu.

- Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu:

+ Hoàn trả cho Công ty TNHH M1 số tiền bảo hiểm đã đóng cho chị Phạm Thị P (đứng tên hồ sơ Phạm Thị H) từ tháng 12/2007 đến tháng 1/2011, mã số BHXH: 03008002961, theo tỷ lệ và quy trình thoái thu của Bảo hiểm xã hội.

+ Chị Phạm Thị H hoàn trả cho cơ quan Bảo hiểm xã hội cơ sở H3 số tiền bảo hiểm xã hội một lần là 4.873.374đ.

+ Chị Phạm Thị P hoàn trả Cơ quan bảo hiểm xã hội cơ sở Hải Dương số tiền đã được hưởng chế độ thai sản là 7.325.000đ.

[3]. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) lệ phí được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005022 ngày 28/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Hải Phòng (đã thực hiện xong).

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ