vanban.org

Quyết định 22/2023/QĐ-TA

TAND TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái Tuyên án 27/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị V.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 02 (hai) năm kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nguyễn Thị V có quyền khiếu nại trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được tống đạt quyết định. Phòng Lao động - Thương binh và Xã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2023/QĐ-TATP. Yên Bái, ngày 27 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hòa.

2. Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Mai Huế.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 21/2023/QĐ-TA ngày 21 tháng 4 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thị V; giới tính: Nữ; sinh ngày 20 tháng 4 năm 1970; số căn cước công dân: 015170000314, cấp ngày 30-8-2021, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nguyên quán: Xã M, TP. Y, tỉnh Yên Bái ; HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ xx, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Quang S, sinh năm 1948 và bà Trần Thị M, sinh năm 1948; tiền án, tiền sự: Không. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hoàng Thanh – Công chức Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái: Ông Trần Văn Tri - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Nguyễn Thị V là đối tượng nghiện chất ma túy, sử dụng dụng ma túy lần đầu vào năm 1998. Ngày 29-3-2023, Công an phường N, thành phố Y tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Thị V, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy. Bản thân Nguyễn Thị V cũng tự nguyện làm đơn đề nghị Trung tâm y tế thành phố Y xác định tình trạng nghiện ma túy.

Tại phiếu trả lời kết quả việc xác định tình trạng nghiện chất ma túy ngày 30-3-2023 của Trung tâm y tế thành phố Y đã xác định Nguyễn Thị V có nghiện ma túy (loại hêrôin). Nguyễn Thị V cũng thừa nhận bản thân vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào ngày 26-3-2023. Sau khi nhận được phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Nguyễn Thị V cam kết trong 05 ngày làm việc sẽ thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nếu không thực hiện biện pháp cai nghiện tự nguyện thì sẽ chịu mọi hình thức cai nghiện theo quy định của pháp luật.

Hết thời hạn 05 ngày làm việc, Nguyễn Thị V không đăng ký cai nghiện tự nguyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Y đã lập hồ sơ đề nghị đưa Nguyễn Thị V vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc và thông báo cho người bị đề nghị được biết để họ thực hiện quyền đọc hồ sơ. Sau đó, hồ sơ đã được gửi cho Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Ngày 17-4-2023, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái ban hành Công văn số 89/LĐTBXH-TNXH về việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Nguyễn Thị V vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái giữ nguyên yêu cầu đề nghị và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị V với thời gian là 02 (hai) năm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định biện pháp xử lý hành chính của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, có đủ cơ sở để xác định:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính được lập đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Thành phần hồ sơ đã đảm bảo theo quy định tại Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Qua các tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Nguyễn Thị V là đối tượng nghiện chất ma túy, bắt đầu sử dụng từ năm 1998. Ngày 29-3-2023, Công an phường N, thành phố Y tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Thị V, kết quả xét nghiệm dương tính với ma túy. Bản thân Nguyễn Thị V cũng tự nguyện làm đơn đề nghị Trung tâm y tế thành phố Y xác định tình trạng nghiện ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả việc xác định tình trạng nghiện chất ma túy ngày 30-3-2023 của Trung tâm y tế thành phố Y đã xác định Nguyễn Thị V có nghiện ma túy (loại hêrôin). Nguyễn Thị V cũng thừa nhận bản thân vẫn sử dụng trái phép chất ma túy, lần gần nhất vào ngày 26-3-2023. Sau khi nhận được phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Nguyễn Thị V cam kết trong 05 ngày làm việc sẽ thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nếu không thực hiện biện pháp cai nghiện tự nguyện thì sẽ chịu mọi hình thức cai nghiện theo quy định của pháp luật.

Hết thời hạn 05 ngày làm việc, Nguyễn Thị V không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Hành vi của V đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ. Bản thân V nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghiện chất ma túy nên vẫn sử dụng. Hành vi này của V đã vi phạm các quy định của pháp luật, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Do đó, việc đưa Nguyễn Thị V đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết.

Đề nghị của Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị V là có căn cứ, cần được chấp nhận. Cần áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn tương xứng để Nguyễn Thị V có thời gian chữa bệnh, lao động dưới sự quản lý của Cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Quá trình lập hồ sơ Nguyễn Thị V đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, cần xem xét cho V được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ các Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 105 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

Căn cứ khoản 2 Điều 20, Điều 23 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị V.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 02 (hai) năm kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Nguyễn Thị V có quyền khiếu nại trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được tống đạt quyết định. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái có quyền kháng nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Yên Bái phối hợp với Công an thành phố Yên Bái có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ