vanban.org

Quyết định 22/2022/HNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Trả lại anh Trần Văn L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0022837 ngày 18/4/2022 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thường Tín. Chị Phạm Thị H và anh Trầ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nhận cha cho con L H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THƯỜNG TÍN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
---------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2022/HNGĐ-ST
Ngày 22/8/2022
V/v: Tranh chấp về xác
định con cho cha

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Bôi và ông Lương Văn Hùng

- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Tín

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tư - Kiểm sát viên.

Ngày 22/8/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 65/2022/TLST – HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022 về “Tranh chấp về xác định con cho cha” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QÐXX-ST ngày 05 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1992; Đăng kí HKTT và trú tại: thôn G K, xã N T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (Có mặt).

- Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1991; Đăng kí HKTT và trú tại: thôn G K, xã N T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội(Có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lâm Văn T, sinh năm 1986. Trú tại: Thôn N Q, xã N T, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

2. Cháu Phạm Đức L, sinh ngày 08/3/2018; Đăng kí HKTT: thôn Đ C, xã D T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: thôn G K, xã N T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Đức L: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1991 (mẹ đẻ cháu L); Đăng kí HKTT và trú tại: thôn G K, xã N T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Trần Văn L trình bày:

Anh L có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng với chị Phạm Thị H từ tháng 6 năm 2017, đến ngày 31/7/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N T, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội và được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Ngày 8/3/2018 chị Phạm Thị H sinh cháu Phạm Đức L, khi đó chị H khai sinh cháu theo họ mẹ. Ngày 15/3/2021, anh L đưa cháu L đi xét nghiệm ADN tại Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền cho kết quả: Anh Trần Văn L và cháu Phạm Đức L có quan hệ huyết thống bố - con. Do vậy đề nghị Tòa án xác định cháu Phạm Đức L, do chị Phạm Thị H sinh ra vào ngày 08/3/2008 là con đẻ của mình để có thể làm thủ tục đổi họ của cháu từ họ Phạm sang họ Trần và chuyển khẩu cho cháu về nhà.

Bị đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

Chị H ly thân với chồng cũ là anh Lâm Văn T khoảng tháng 10 năm 2016 đến ngày 27/9/2017 thì ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 120/2017/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên. Kể từ khi ly thân chị H với anh Lâm Văn T đã chấm dứt mọi quan hệ tình cảm do phát sinh mâu thuẫn. Trong thời gian này chị H có quan hệ tình cảm và chung sống với anh Trần Văn L như vợ chồng. Ngày 8/3/2018 chị H có sinh 1 cháu trai, đặt tên là Phạm Đức L. Thời điểm sinh cháu L chị H khai sinh cháu theo họ mẹ. Ngày 31/7/2019 chị H và anh Trần Văn L mới đăng kí kết hôn. Việc Trần Văn L đưa cháu Long đi xét nghiệm ADN tại Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền cho kết quả: Anh Trần Văn L và cháu Phạm Đức L có quan hệ huyết thống bố - con, độ tin cậy > 99.9999 %, chị H không có ý kiến thắc mắc gì về kết quả giám định ADN trên. Nay anh L khởi kiện yêu cầu xác định cháu Phạm Đức L là con anh L, chị H đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu Phạm Đức L là con đẻ của anh Trần Văn L.

NHẬN ÐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Vụ án theo yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thường Tín theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Xét yêu cầu của anh Trần Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy, cả anh L và chị H đều thừa nhận đã có quan hệ tình cảm và chung sống như vợ chồng từ tháng 6/2017. Chị Phạm Thị H chị ly hôn với chồng cũ là Lâm Văn T ngày 27/9/2017 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 120/2017/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên nhưng thực tế đã ly thân từ khoảng tháng 10 năm 2016.

Tại Kết quả xét nghiệm ADN số 69.GL/21/ADN của Viện công nghệ AND và phân tích di truyền xét nghiệm ADN kết luận: Anh Trần Văn L có quan hệ huyết thống bố - con với Phạm Đức L, độ tin cậy > 99.9999 %

Từ những căn cứ nêu trên có thể xác định cháu Phạm Đức L, do chị Phạm Thị H sinh ra vào ngày 08/3/2018 là con đẻ của anh Trần Văn L.

Do anh Trần Văn L và chị Phạm Thị H đã đăng ký kết hôn và hiện đang chung sống cùng nhau, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi con chung và vấn đề cấp dưỡng nên Tòa không xét.

[3] Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 88, 89, 101, 102 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định cháu Phạm Đức L, do chị Phạm Thị H sinh ra vào ngày 08/3/2018, là con đẻ của anh Trần Văn L.

2. Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Trả lại anh Trần Văn L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0022837 ngày 18/4/2022 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thường Tín.

3. Chị Phạm Thị H và anh Trần Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lâm Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ