- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Kim C được ly hôn anh Hà Trọng H .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25-4-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Minh Hằng
2. Bà Dương Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại hội trường xét xử B - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 113/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 ngày 12 năm 2021 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Kim C ĐKHKTT: Hang D, Hải Sơn, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; cư trú tại: 37/24/91 Đ, phường Đ, quận Hải An, thành phố Hải Phòng Là nguyên đơn. Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặtp.
- Bị đơn: Anh Hà Trọng H , ĐKHKTT tại: Hang D, Hải S, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; cư trú tại: 37/24/91 Đông Trung H, phường Đ, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Là bị đơn.Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 11 năm 2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Kim C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Trọng H xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Đẩu, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng ngày 02/4/2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian ngắn, thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân, sau kết hôn về chung sống chị đã biết anh H ham mê cờ bạc, nhưng khi đó không ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế gia đình nên chị khuyên nhủ để anh hạn chế chơi cờ bạc. Đến năm 2019, khi chị sinh con thứ 3 anh H thua cờ bạc phải vay nợ, bị nhiều người đến nhà đòi nợ, lúc này chị và gia đình mới được biết anh H đã vay nợ số tiền lớn, không thể trang trải nên anh chị đã phải bán căn nhà đang ở để trang trải nợ nần cho anh H , nhưng không đủ nên vẫn bị một số chủ nợ làm phiền. Sau sự việc đó, anh H vẫn không thay đổi mà thường xuyên đi sớm về muộn, không quan tâm đến gia đình vợ, con. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng không thể cứu vãn, tình cảm vợ chồng không còn, từ năm 2020 đến nay, tuy vợ chồng ở cùng nhà, nhưng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Hà Trọng H .
Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là Hà Hoàng Trọng N sinh ngày 28 tháng 11 năm 2004; Hà Hoàng Thu P sinh ngày 21 tháng 3 năm 2008 và Hà Hoàng Trọng K sinh ngày 21 tháng 10 năm 2019. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả ba con chung đến khi trưởng thành, do anh H giờ giấc đi về không cố định, đã từ lâu không có trách nhiệm chăm lo gì đến cuộc sống của các con. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị C xin chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, tại các buổi làm việc, phiên họp và tại phiên tòa anh Hà Trọng H đều vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng.
Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị Kim C vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã nêu trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản làm việc và trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ của chính quyền địa phương, đại diện gia đình thể hiện: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như Chị C trình bầy. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian, thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân do anh H chơi bời cờ bạc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế gia đình. Đến năm 2019, anh H thua cờ bạc bị nhiều người đến nhà đòi nợ, không có khả năng thanh toán, nên anh chị đã phải bán nhà đang ở để trang trải nợ nần cho anh H . Sau sự việc đó, anh H vẫn không thay đổi mà thường xuyên đi sớm về muộn, không quan tâm đến gia đình vợ, con. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù mâu thuẫn anh chị được gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng không có kết quả. Nay Chị C xin ly hôn, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, đại diện gia đình đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H .
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà theo các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Kim C được ly hôn anh Hà Trọng H .
Về con chung: Giao con chung Hà Hoàng Trọng N sinh năm 2004, Hà Hoàng Thu P sinh năm 2008 và Hà Hoàng Trọng K sinh năm 2019 cho Chị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Hoàng Thị Kim C có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Hà Trọng H . Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn là anh Hà Trọng H vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hoàng Thị Kim C vắng mặt và đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt Chị C .
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Đẩu, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng ngày 02/4/2004. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa Chị C và anh H là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị sống hoà thuận, sau mâu thuẫn phát sinh, nhưng căng thẳng nhất từ năm 2019. Nguyên nhân do anh H chơi bời cờ bạc, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế và cuộc sống của gia đình vợ con. Hơn nữa, anh H vẫn không thay đổi mà thường xuyên đi sớm về muộn, không quan tâm đến gia đình. Mặc dù mâu thuẫn anh chị được gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng không có kết quả. Từ năm 2020 đến nay, tuy vợ chồng ở cùng nhà, nhưng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo và các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H và tiến hành hòa giải nhưng anh H không có mặt và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến tới Tòa án, không tham dự hòa giải theo triệu tập của Tòa án. Đây là lần thứ hai anh H vắng mặt tại phiên toà mà không có lý do, là tự từ bỏ quyền lợi của mình trước tòa, đồng thời thể hiện anh H không có thiện chí hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa Chị C và anh H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc Chị C đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh H là có căn cứ, cần được chấp nhận.
Về con chung: Chị và anh H có 03 con chung là Hà Hoàng Trọng N sinh ngày 28 tháng 11 năm 2004; Hà Hoàng Thu P sinh ngày 21 tháng 3 năm 2008 và Hà Hoàng Trọng K sinh ngày 21 tháng 10 năm 2019. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả ba con chung đến khi trưởng thành. Theo Chị C cũng như ý kiến đại diện gia đình, anh H giờ giấc đi về không cố định, đã từ lâu không có trách nhiệm chăm lo cuộc sống của các con. Chị C làm việc theo giờ hành chính, có thu nhập ổn định và có sự giúp đỡ của bà ngoại ở cùng để giúp chị trông con, cũng như con lớn Trọng Nghĩa sắp thành niên nên cũng phụ giúp chị trông nom các em nhỏ, hiện các cháu đang ở cùng Chị C chăm sóc. anh H không gửi quan điểm tới Tòa án về nuôi con chung. Quan điểm của gia đình anh H và nguyện vọng của các cháu nhất trí với quan điểm của Chị C . Xét nguyện vọng của các cháu và yêu cầu của Chị C , để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu cần giao cả ba cháu cho Chị C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên là hoàn toàn chính đáng và cần được cấp nhận. Việc cấp dưỡng nuôi con chung Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xét giải quyết.
Về án phí: Chị C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Kim C được ly hôn anh Hà Trọng H .
2. Về con chung: Giao con chung Hà Hoàng Trọng N sinh năm 2004, Hà Hoàng Thu P sinh năm 2008 và Hà Hoàng Trọng K sinh năm 2019 cho Chị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét giải quyết. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Kim C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Chị C đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí sơ thẩm số 0004600 ngày 06/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị C và anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND quận Hải An; - Chi cục THADS quận Hải An; - UBND phường văn Đẩu, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Thường |