vanban.org

Quyết định 22/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hữu Tr,

Tuyên bố chị Cao Thị K, sinh ngày 06/10/1990; nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Th, xã T1, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Hữu Tr phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "TUYÊN BỐ MẤT TÍCH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hữu Tr,
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2021/QĐST-DSThọ Xuân, ngày 29 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến

Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Đỗ Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 53/2020/TLST-DS ngày 02 tháng 12 năm 2020 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2021/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Nguyễn Hữu Tr, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn Th, xã T1, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Cao Thị K, sinh ngày 06/10/1990; nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Th, xã T1, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là anh Nguyễn Hữu Tr trình bày: anh và chị K có quan hệ là vợ chồng, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã X (nay là xã Tr Xuân), huyện Thọ Xuân vào ngày 26/3/2010. Sau khi kết hôn, do kinh tế khó khăn nên vợ chồng có đi làm ăn ở xa, đến cuối năm 2017 thì cả vợ chồng con cái về quê sinh sống cùng bố mẹ đẻ anh ở thôn Thọ Tiến. Đến tháng 2/2018 thì chị K bảo đi làm ăn, nhưng không nói rõ đi làm ở đâu, làm gì, sau đó thì gia đình mất liên lạc với chị K. Anh cùng gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi, hỏi thăm bạn bè, người thân nhưng không biết tin tức về chị K. Đến nay anh vẫn không có tin tức gì về chị K, nên anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân giải quyết tuyên bố chị Cao Thị K mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với chị K theo quy định.

Tại quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 26/2020/QĐ-TA ngày 03/12/2020 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Cao Thị K theo đúng quy định, cụ thể: Tại Báo Nhân dân các số 23790, 23791, 23792 ra vào các ngày 09, 10, 11 tháng 12 năm 2020, cũng như Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 10, 11, 12 tháng 12 năm 2020 đã nhắn tin, phát tin tìm kiếm chị Cao Thị K theo quy định, nhưng đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức về chị Cao Thị K.

Tại phiên họp anh Nguyễn Hữu Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố chị Cao Thị K mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết: đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân áp dụng Điều 369, 370, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Tr, tuyên bố chị Cao Thị K là người mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Hữu Tr yêu cầu tuyên bố chị Cao Thị K, có HKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Th, xã T1, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị K được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do, nên căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị K.

Về nội dung yêu cầu: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Hữu Tr và chị Cao Thị K là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống do kinh tế khó khăn, nên từ tháng 2/2018 chị K đi làm ăn xa, sau đó không có liên lạc về với gia đình. Anh Tr cùng gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi, hỏi thăm bạn bè, người thân nhưng không biết tin tức về chị K; hiện không biết chị K đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, nên anh Tr làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố chị Cao Thị K mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với chị K. Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thụ lý việc dân sự và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Cao Thị K, đồng thời thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên Báo Nhân dân. Ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Cao Thị K lần đầu tiên là ngày 09/12/2020, tính đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng, nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Cao Thị K.

Từ những phân tích nêu trên, xác định: Chị Cao Thị K đã bỏ đi biệt tích từ tháng 02/2018 đến nay là hơn 2 năm; anh Nguyễn Hữu Tr là chồng đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Cao Thị K. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Hữu Tr và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tại phiên họp, tuyên bố chị Cao Thị K mất tích là phù hợp.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Hữu Tr phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Hữu Tr,

Tuyên bố chị Cao Thị K, sinh ngày 06/10/1990; nơi ĐKHKTT và cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn Th, xã T1, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Hữu Tr phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, anh Tr đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0006269 ngày 02/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Anh Nguyễn Hữu Tr đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

- Tr hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ