- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa Nguyễn H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H.
- Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 22/2017/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 14 tháng 11 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Sinh.
Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Đình Sắc - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn.
Ngày 14 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 22/QĐ-TA ngày 10 tháng 11 năm 2017 đối với:
Họ và tên: Nguyễn H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1986;
Chứng minh nhân dân số: 082020156 do Công an tỉnh Lạng Sơn cấp.
Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12;
Nguyên quán: Huyện O, thành phố Hà Nội.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 57 P, khối 4, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn;
Nghề nghiệp: Không.
Nhân thân: Năm 2010, bị Tòa án nhân dân thành phố L xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tiền sự: Không;
Con ông: Nguyễn D và bà Nguyễn A.
Nguyễn H có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nguyễn P - Cán bộ. Theo giấy ủy quyền số 359/QĐ-LĐTB&XH, ngày 13/11/2017 của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố L.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn: Ông Bế T - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Nguyễn H là người nghiện chất ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường theo Nghị định 111/2013/NĐ- CP ngày 30/9/21013 của Chính phủ tại Quyết định số 195/QĐ-UBND ngày 07/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn với thời hạn 03 tháng. Ngày 07/10/2017 Nguyễn H chấp hành xong Quyết định giáo dục tại xã, phường.
- Ngày 10/7/2017, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L ra Quyết định số 195A/QĐ-UB về việc quản lý cai nghiện tự nguyện tại gia đình đối với Nguyễn H. Nhưng Nguyễn H vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và lệ thuộc vào ma túy.
- Ngày 27/6/2017, Công an phường T, thành phố L đã tiến hành lập biên bản đối với Nguyễn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn H, kết quả xét nghiệm nước tiểu Nguyễn H dương tính với chất ma túy Heroin.
- Ngày 25/10/2017, Công an phường T, thành phố L đã tiến hành triệu tập, Nguyễn H khai đã nghiện ma túy từ lâu, hàng ngày vẫn sử dụng ma túy. Tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn H, kết quả xét nghiệm nước tiểu Nguyễn H dương tính với chất ma túy Heroin. Công an phường T, thành phố L đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn H vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 21, Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh Lạng Sơn trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
- Nguyễn H đã được cai nghiện tại gia đình và áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/21013 của Chính phủ nhưng vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và lệ thuộc vào ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ, Nguyễn H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho Nguyễn H theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Nguyễn H không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố L đề nghị đưa Nguyễn H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến:
- Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị; trình tự, thủ tục tại phiên họp; người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Nhất trí đề nghị của đại diện Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố L, buộc Nguyễn H chấp hành cai nghiện bắt buộc 16 tháng là phù hợp.
Người bị đề nghị Nguyễn H trình bày ý kiến: Bản thân tôi đã nghiện chất ma túy từ lâu, đã được cai nghiện tại gia đình nhưng hiện nay tôi vẫn nghiện, tôi cũng đã biết lỗi của bản thân. Tôi xin chấp hành đi cai nghiện tập trung, nhưng về thời gian cai nghiện đề nghị Tòa án xem xét giảm cho tôi mức nhẹ nhất.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H được thực hiện như sau:
- Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ được thực hiện theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính và mục 2 Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc:
+ Hồ sơ có Bản tóm tắt lý lịch và tài liệu chứng minh về tuổi của đối tượng Nguyễn H;
+ Hồ sơ có phiếu trả lời kết quả đối tượng Nguyễn H là người nghiện chất ma túy của bác sỹ Trạm y tế cấp xã.
+ Tài liệu chứng minh đối tượng Nguyễn H đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường gồm có:
* Quyết định số 195/QĐ-UBND ngày 07/7/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường đối với Nguyễn H;
* Giấy chứng nhận số 222/GCN-UBND ngày 07/10/2017 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L về việc đối tượng Nguyễn H đã chấp hành xong biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường.
+ Biên bản về vi phạm hành chính của Công an phường T, thành phố L lập ngày 27/6/2017 và ngày 25/10/2017 đối với Nguyễn H vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
+ Bản tường trình của đối tượng vi phạm Nguyễn H;
+ Thông báo số 86/TB-UBND ngày25/10/2017 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L về việc lập và giao hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H;
+ Thông báo số 177/TB -TP ngày 08/11/2017của Phòng Tư pháp thành phố L về kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H và Công văn số 352/LĐTBXH ngày 08/11/2017 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L về đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H.
- Hồ sơ thể hiện đối tượng Nguyễn H là người nghiện ma túy đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn còn nghiện quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và mục 1 Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm. Do đó, tính từ ngày 25/10/2017 là ngày Nguyễn H bị Công an phường T, thành phố L lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì thời hiệu vẫn đảm bảo theo luật định.
- Về thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị: Theo điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng có nơi thường trú ổn định tại phường H, thành phố L nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T và Công an phường T có trách nhiệm giúp thu thập tài liệu, lập hồ sơ.
- Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Đảm bảo theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H là đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Hành vi vi phạm của Nguyễn H đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây ảnh hưởng cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố L.
- Xét về nhân thân của Nguyễn H: Là người đã trưởng thành, đã bị Tòa án xét xử năm 2010 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã nhưng không tiến bộ.
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, người bị đề nghị áp dụng Nguyễn H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Người bị đề nghị Nguyễn H có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù có tình tiết giảm nhẹ, nhưng hành vi vi phạm của Nguyễn H cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố L đề nghị đưa Nguyễn H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 đến 24 tháng.
Xét thấy Nguyễn H không có tình tiết tăng nặng, có 01 tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; do vậy cần đưa Nguyễn H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nguyễn H đã gây ra; để Nguyễn H có thời gian cai nghiện và sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy mới có tác dụng cảm hóa, giáo dục Nguyễn H trở thành người công dân có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
Vì các lẽ trên;
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Áp dụng Điều 4; Điều 8; Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mục 2 Điều 1, Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Áp dụng Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn H.
Sinh ngày 17 tháng 11 năm 1986.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 57 P, khối 4, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn;
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở giáo dục bắt buộc là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố L phối hợp với Công an thành phố L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP L; - VKSND TP L; - Phòng Tư pháp TP L; - Phòng LĐ-TB &XH TP L; - UBND phường T, thành phố L; - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Đình Sinh |