vanban.org

Quyết định 218/2024/QĐ-TA

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/12/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H lập đối với ông Huỳnh Ngọc T2.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở Cai nghiện ma túy B1. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 28/9/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H lập đối với ông Huỳnh Ngọc T2.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 218/2024/QĐ-TAQuận C, ngày 19 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Hoài Nam P

2. Thư ký phiên họp: Bà Bùi Nhật Vi Phượng

Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hồ sơ thụ lý số 219/2024/TLST-XLHC ngày 11 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định mở phiên họp số 226/2024/QĐ-TA ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với:

HUỲNH NGỌC T2; Giới tính: Nam;

Sinh năm: 1992;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12;

Nguyên quán: Ninh Thuận;

Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận;

Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 24/3/2009, Bị Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” theo bản án số 45/HSST.

- Ngày 26/9/2013, Bị Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” theo bản án số 217/HSST.

Con ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị Kim M.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hữu T1 – Chuyên viên Phòng L.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3: Ông Đỗ Thành Trung – Kiểm sát viên.

3. Người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Không có.

4. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Không có.

5. Những người khác: Không có.

NHẬN THẤY:

Ngày 09/12/2024, Phòng L có văn bản đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Huỳnh Ngọc T2 do có hành vi sử dụng chất ma túy, cụ thể như sau: Vào ngày 27/9/2024, tại trước số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh tổ tuần tra Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện ông Huỳnh Ngọc T2 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên đưa ông T2 về trụ sở Công an phường làm việc và đưa đi xét nghiệm ma tuý tại Trung tâm Y tế Q. Kết quả xét nghiệm ông T2 dương tính với M1 (ma túy đá) và A (ma túy tổng hợp).

Sau khi hết thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện mà ông T2 không tự nguyện đăng ký nên đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Ông T2 trình bày: Ông T2 xác nhận ông nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định và đề nghị Tòa án xem xét cho ông giảm thời gian đi cai nghiện bắt buộc để ông có điều kiện về chăm sóc gia đình.

- Đại diện Phòng L có ý kiến: Do ông Huỳnh Ngọc T2 nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Nay đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở Cai nghiện ma tuý Bố Lá đối với ông T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 có ý kiến: Hồ sơ đã được thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục về việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Huỳnh Ngọc T2, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 15 (mười lăm) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính do Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 28/9/2024 thể hiện ông Huỳnh Ngọc T2 đã có hành vi sử dụng chất ma túy và có chữ ký xác nhận của ông T2.

Căn cứ Bản tường trình do ông Huỳnh Ngọc T2 tự viết ngày 27/9/2024; Căn cứ biên bản ghi lời khai do Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 27/9/2024 có chữ ký xác nhận của ông T2; Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính do Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 28/9/2024 đã thể hiện ông T2 xác nhận ông T2 nghiện ma túy và ngày 24/9/2024 có sử dụng ma túy đá nên đã bị Công an P2, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản vi phạm hành chính.

Căn cứ Phiếu trả lời xác minh thông tin cư trú của Công an xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận thể hiện ông T2 có hộ khẩu thường trú tại Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Tuy nhiên, không thường xuyên sinh sống tại địa phương.

Căn cứ Phiếu trả lời xác minh thông tin cư trú của Công an xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh: ông T2 không thực tế cư trú tại Ký túc xá D, ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Phiếu kết quả xác nhận tình trạng nghiện ma túy lập ngày 02/10/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy Thanh thiếu niên B về việc xác định tình trạng nghiện ma túy thì ông T2 nghiện ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) và A (ma túy tổng hợp).

Từ các căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T2 được Công an P1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Phòng Tư pháp Quận 3; Phòng L lập đúng và đầy đủ theo trình tự theo quy định tại Điều 96 và Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó đề nghị của Phòng L là có cơ sở.

Xét ông T2 là người trên 18 tuổi và biết rõ ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng ông T2 vẫn cố ý sử dụng ma túy. Hành vi của ông T2 đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về trừ tệ nạn ma túy và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư nên việc bắt buộc cai nghiện đối với ông T2 là cần thiết.

Từ những nhận định trên, xét thấy có đủ căn cứ xác định ông Huỳnh Ngọc T2 là người trên 18 tuổi, nghiện ma túy và hiện có nơi cư trú ổn định, không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại địa phương nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 3, Điều 6, Điều 9, Điều 10, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 105 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Điều 32 Luật Phòng chống ma túy;

Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 về trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Ủy ban nhân dân Thành phố H lập đối với ông Huỳnh Ngọc T2.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu là: Cơ sở Cai nghiện ma túy B1.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 28/9/2024.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Ông Huỳnh Ngọc T2 được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

- Cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 được quyền kiến nghị, kháng nghị trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an Quận 3 Thành phố H;

Phòng L - Ủy ban nhân dân Quận C phối hợp với Công an Q đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ