vanban.org

Quyết định 213/2022/QĐ-TA

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/09/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với bà Nguyễn Thị Thùy T. Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở Cai nghiện ma túy Phú Nghĩa. (Địa chỉ: xã Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 213/2022/QĐ-TATp. Thủ Đức, ngày 20 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Giang.

Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên họp trực tuyến sơ thẩm công khai để giải quyết

hồ sơ thụ lý số: 196/2022/XLVPHC ngày 09 tháng 9 năm 2022 về việc “Áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở

phiên họp số: 186/2022/QĐ-TA ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy T

Giới tính: Nữ.

Sinh ngày: 13/9/1987

CCCD/Hộ chiếu: 079187000697; Ngày cấp: 23/6/2022; Nơi cấp: Cục cảnh

sát.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 11/12.

Nguyên quán: Thành phố Hồ Chí Minh.

Hộ khẩu thường trú: Số 60/17, Đường 4, Khu phố 5, phường T, thành phố

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Về nhân thân: Tiền án và tiền sự, không có.

Con ông: Nguyễn Tấn T và bà: Kiều Ánh Tr.

(Bà Nguyễn Thị Thùy T có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lý Hồ Nhựt Hoàng - Chức vụ: Chuyên

viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên họp:

Ông Võ Cao Hùng - Kiểm sát viên (có mặt).

NHẬN THẤY:

Theo văn bản số 882/LĐTBXH ngày 08/9/2022 của Phòng Lao động -

Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan chức năng thu thập, thể hiện:

Ngày 23/6/2022, Công an phường T, thành phố Thủ Đức lập biên bản vi

phạm hành chính đối với bà Nguyễn Thị Thùy T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Công an phường T đã đưa bà T đi xét nghiệm chất ma túy. Tại biên bản xét

nghiệm chất ma túy ngày 23/6/2022 của Trạm Y tế phường T, thành phố Thủ Đức xác định bà Nguyễn Thị Thùy T dương tính với chất ma túy. Phiếu trả lời kết quả ngày 26/6/2022 của Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 kết luận bà Nguyễn Thị Thùy T nghiện ma túy (Amphetamine).

Quá trình tiến hành xác minh tình trạng cư trú, thu thập chứng cứ về độ

tuổi, nhân thân của người nghiện ma túy, xác định bà Nguyễn Thị Thùy T đủ 18 tuổi, không có nơi cư trú ổn định.

Tại bản tường trình của bà Nguyễn Thị Thùy T cũng như biên bản ghi lời

khai do Công an phường T, thành phố Thủ Đức lập thể hiện: Bà Nguyễn Thị Thùy T xác nhận bắt đầu sử dụng ma tuý từ năm 2006, lần cuối bà T sử dụng là vào ngày 23/6/2022.

Do đó, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức đề

nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa bà Nguyễn Thị Thùy T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy Phú Nghĩa. (Địa chỉ: xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

Tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố Thủ Đức giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Thùy T trong thời gian từ 12 đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về

việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Thùy T đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản dưới luật quy định. Đương sự thực hiện đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Thùy T trong thời gian từ 12 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại

phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện

cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, có cơ sở xác định:

Về thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Cơ quan đề

nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với bà Nguyễn Thị Thùy T là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền xem xét yêu cầu trên của Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức theo quy định tại khoản 1 Điều

3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ

Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử

lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Ngày

23/6/2022, Công an phường T, thành phố Thủ Đức lập biên bản vi phạm hành

chính đối với bà Nguyễn Thị Thùy T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 20/9/2022, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

tiến hành mở phiên họp xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Thùy T là còn trong thời

hiệu được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Việc xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Thùy T đã được cơ quan

chức năng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thời hạn theo quy định tại Điều

103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1

Điều 8; các Điều 9, 10, 11, 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013

của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở

cai nghiện bắt buộc và Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của

Chính Phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP

ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị Thùy T thừa nhận hành vi vi phạm hành

chính là sử dụng trái phép chất ma túy. Tòa án xét thấy lời khai nhận của bà T phù

hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ, khi bị Công an phát hiện lập biên bản vi

phạm bà T nhận lỗi vi phạm. Tại Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai, bà T đều

thừa nhận có sử dụng ma túy. Các kết quả xét nghiệm đều xác định bà T dương

tính với ma túy. Về nơi cư trú: Tại phiên họp cũng như trong quá trình các cơ

quan chức năng lập hồ sơ, bà T khai nhận không có nơi cư trú ổn định.

Từ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như biên bản vi phạm hành

chính, bản tường trình, kết quả xét nghiệm ma túy, phiếu trả lời về tình trạng nghiện ma túy hiện tại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác về độ tuổi, tình trạng cư trú của bà T. Có đủ cơ sở pháp lý kết luận bà Nguyễn Thị Thùy T là người đủ 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, bị nghiện ma túy, đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và không có nơi cư trú ổn định, là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do vậy, việc Phòng Lao Động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị Thùy T theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ pháp luật.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bà Nguyễn Thị Thùy T đã vi

phạm trật tự, an toàn xã hội, nghiện ma túy không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bản thân, gây thiệt hại về vật chất, tinh thần, mà còn là nguyên nhân của nhiều tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Theo tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên họp, bà T có thái độ thành khẩn do đó Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa bà T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian phù hợp để cai nghiện, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện, để ông được tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3; điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 95; Điều 96;

Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2020.

Căn cứ khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 8; Điều 9; Điều 10; Điều 11;

Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn cứ Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 về việc sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 9; Điều 20; Điều 22; Điều 23; Điều 30; Điều

31; Điều 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với bà Nguyễn Thị Thùy T.

Cơ sở tiếp nhận ban đầu: Cơ sở Cai nghiện ma túy Phú Nghĩa. (Địa chỉ: xã

Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước).

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm)

tháng, kể từ ngày 23/6/2022.

Trong thời gian cai nghiện, trường hợp có thay đổi cơ sở cai nghiện bắt

buộc, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo cho các cá nhân, cơ quan,

tổ chức có liên quan biết.

3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết

định, bà Nguyễn Thị Thùy T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương binh

và Xã hội thành phố Thủ Đức có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án. Đơn khiếu nại, văn bản

kiến nghị, kháng nghị phải gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nêu rõ lý

do và căn cứ.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2, Cơ sở

Cai nghiện ma túy Phú Nghĩa có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ