vanban.org

Quyết định 2120/2022/QĐHNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Xác định Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2000 - là con của Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu xác định con cho cha mẹ"
  • Tòa quyết gì? Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 2120/2022/QĐHNGĐ-STThành phố Thủ Đức, ngày 14 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Xác định con cho cha mẹ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Cao Thị Hiền Lũy

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Ngọc Hoa, Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên họp: Ông Vũ Lê Quang Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai để giải quyết việc dân sự thụ lý số 39/2022/TLST-VDS ngày 07/01/2022 về việc “Xác định con cho cha mẹ” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 3475/2022/QĐ-MPH ngày 31/5/2022.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

1. Ông Trần Tấn N, sinh năm 1968

Địa chỉ: số nhà 22 Đường số x, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí

Minh (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1972

Địa chỉ: số nhà 86 Đường số y, Khu phố z, phường H, thành phố T, Thành

phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Yêu cầu xác định: Trần Thị Ngọc M, sinh năm 2000 là con.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu ngày 20 tháng 12 năm 2021 và lời trình bày của ông Trần

Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O:

Ông bà chung sống vợ chồng từ năm 1998 nhưng vì hoàn cảnh khó khăn

phải đi làm thuê tại các tỉnh khác, không ổn định về chỗ ở và không hiểu biết về pháp luật nên không đăng ký kết hôn. Ngày 21/11/2000 bà O sinh con gái và vợ chồng đặt tên là Trần Thị Ngọc M. Ngày 24/12/2001 bà O tiếp tuc sinh con gái thứ hai và đặt tên Trần Thị Ngọc V. Do bà O tự sinh con tại nhà nên không có giấy chứng sinh và cũng không đăng ký khai sinh theo quy định. Đến nay các con đã trưởng thành, cần xác lập, thực hiện các quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân nên ông bà yêu cầu Tòa án xác định Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 21/11/2000 và Trần Thị Ngọc V, sinh ngày 24/12/2001 là con của ông bà để các con được làm thủ tục đăng ký cấp các giấy tờ đảm bảo về quyền nhân thân.

Ngày 25/5/2022 ông Trần Tấn N, bà Nguyễn Thị Ngọc O có đơn rút một

phần yêu cầu đối với yêu cầu xác định Trần Thị Ngọc V là con. Ông N, bà O chỉ yêu cầu Tòa án xác định Trần Thị Ngọc M là con.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 02 năm 2022 bà Trần Thị Ngọc M

trình bày:

Bà là con của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O, bà được cha mẹ

chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi sinh ra cho đến nay. Tuy nhiên do cha mẹ bà không hiểu biết pháp luật và phải đi làm ăn ở nhiều nơi nên không đăng ký khai sinh cho bà. Bản thân bà chưa có giấy khai sinh nên không có bất kỳ giấy tờ nào chứng minh về quyền nhân thân. Đến nay ông N, bà O yêu cầu Tòa án xác định bà là con với mục đích có cơ sở đăng ký cấp các giấy tờ liên quan đến quyền nhân thân, đảm bảo được quyền lợi gắn liền với cá nhân của bà, bà đồng ý với yêu cầu của ông N, bà O.

Tại phiên họp, ông Trần Tấn N, bà Nguyễn Thị Ngọc O giữ nguyên yêu

cầu Tòa án xác định Trần Thị Ngọc M là con. Rút một phần yêu cầu đối với yêu cầu xác định Trần Thị Ngọc Vy là con.

Bà Trần Thị Ngọc M thống nhất với yêu cầu của ông N và bà O.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến và đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu của đương sự, xác định Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 21/11/2000 là con của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O. Đình chỉ một phần yêu cầu các đương sự đã rút.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp. Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O là

yêu cầu về dân sự “Xác định con cho cha mẹ”, được quy định tại Khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Ông N, bà O cư trú tại thành phố Thủ Đức nên yêu cầu của ông bà thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm t Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Xét, lời khai của ông N, bà O phù hợp với kết quả phân

tích mẫu AND. Kết luận giám định số 2241/KL-KTHS ngày 11/5/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an kết luận: “Trần Thị Ngọc M là con ruột của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O”. Vì vậy căn cứ lời khai của các đương sự cùng kết giám định của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông N, bà O; xác định Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2000 là con của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O.

Đối với yêu cầu xác định Trần Thị Ngọc Vy là con: Tại phiên họp ông N

và bà O đã rút một phần yêu cầu đối với yêu cầu xác định Trần Thị Ngọc Vy, sinh ngày 24/12/2001 là con. Xét việc ông N, bà O rút một phần yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật nên cần đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu đương sự đã rút.

Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông N bà O phải chịu theo quy

định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến đề

nghị chấp nhận yêu cầu của đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 4; khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2

Điều 39; Khoản 1, Khoản 3 Điều 217; Khoản 3 Điều 218; Điều 219; Điều 361; điểm c Khoản 2 Điều 366; Điều 369; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 89; Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị

Ngọc O;

Xác định Trần Thị Ngọc M, sinh ngày 21 tháng 11 năm 2000 - là con của

ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm của ông Trần

Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O về việc xác định Trần Thị Ngọc Vy, sinh ngày 24/12/2001 là con.

3. Hậu quả của việc đình chỉ một phần yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Các đương sự được quyền nộp lại đơn khi có yêu cầu.

4. Lệ phí giải quyết việc dân sự:

Ông Trần Tấn N và bà Nguyễn Thị Ngọc O phải chịu 300.000 đồng (ba

trăm ngàn) đồng, được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu số 0025520 ngày 05/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp đủ).

5. Quyền và thời hạn kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười)

ngày kể từ ngày Toà án tuyên quyết định.

Cỡ chữ