- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T (do ông Lê Hà Vĩnh T1 làm đại diện kháng cáo).
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 212/2025/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tửu
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Long
Ông Hà Huy Cầu
Tại Quyết định Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 2290/2023/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ các Điều 48, 477, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 484/2005/TLST-DS ngày 19/9/2005 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ T (JOANNE HUYNH DO), sinh năm 1953; Địa chỉ: A M, M, CA 95035, USA. Địa chỉ tạm trú: B1101 Căn hộ cao cấp S1, số A N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hà Vĩnh T1, sinh năm 1977 (Theo Giấy ủy quyền ngày 07/3/2019). Địa chỉ: Số A, khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là: Phường T, tỉnh Đồng Nai).
- Bị đơn:
1/ Ông Huỳnh Tấn N, sinh năm 1951;
2/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H: ông Huỳnh Tấn N. Cùng địa chỉ: Số E - E G, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H: Luật sư Phạm Tiến Thiên T2 – Văn phòng Luật sư Phạm Thiên T2. Địa chỉ: Số E Đại lộ B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là: Phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1931, chết năm 2019.
Địa chỉ: C. Cosmic Way, F, CA 94035, USA.
2. Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 1950.
Địa chỉ: A D, S, CA I, USA.
3. Ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số B Lô A, cư xá T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Ông Huỳnh Minh C, sinh năm 1962 (chết ngày 14/5/2019).
Địa chỉ: C địa chỉ với ông Huỳnh Tấn K nêu trên.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ông Huỳnh Thế B, sinh năm 1989 (cùng địa chỉ với ông Huỳnh Tấn K, Huỳnh Minh C).
5. Ông Huỳnh Minh K1, sinh năm 1964.
Địa chỉ: B S, G, TX G, USA.
6. Ông Huỳnh Hữu T3, sinh năm 1966;
Địa chỉ: B, E, B, CT 06606 USA.
7. Ông Huỳnh Minh H1, sinh năm 1966 (cùng địa chỉ với ông K, ông C nêu trên).
8. Ông Huỳnh Minh T4, sinh năm 1968.
Địa chỉ: D M, M, CA 91763, USA.
9. Bà Huỳnh Thị Mỹ Y, sinh năm 1975.
Địa chỉ: C C, F, CA 94538, USA.
10. Ông Đỗ Đức C1 (PETER CUONG DO), sinh năm 1946.
Địa chỉ: C địa chỉ với nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T.
11. Ông Huỳnh Hoang V, sinh năm 1983.
12. Bà Huỳnh Hoàng Phương A, sinh năm 1984.
13. Trẻ Trần Minh K2, sinh năm 2017;
14. Trẻ Trần Huỳnh A1, sinh năm 2020.
Đại diện hợp pháp của trẻ K2, A1 là bà Huỳnh Thị Phương A2, sinh năm 1984.
15. Bà Phạm Thị Thùy L2, sinh năm 1983.
Đại diện theo ủy quyền của ông V, bà Phương A2, bà Thùy L2: Ông Huỳnh Tấn N, sinh năm 1959 (theo văn bản ủy quyền cùng ngày 24/10/2020).
16. Trẻ Huỳnh Phạm Tâm U, sinh năm 2010.
17. Trẻ Huỳnh Phạm Vi L1, sinh năm 2015.
18. Trẻ Huỳnh Phạm Thiên V1, sinh năm 2017.
Đại diện hợp pháp của trẻ Tâm U, V, Thiên V1 là bà: Huỳnh Phạm Thị Thùy L2.
19. Ông Trần Lê H2, sinh năm 1986.
20. Ủy ban nhân dân Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án khi có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Tại đơn kháng cáo ngày 09 tháng 01 năm 2024 của ông Lê Hà Vĩnh T5. Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 2290/2023/QĐST- DS, ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh ông Nguyễn Văn Đ – Kiểm sát viên cao cấp, phát biểu quan điểm tại phiên họp:
Về tố tụng: Hội đồng phúc thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên họp giải quyết kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Về nội dung: Đối với kháng cáo của ông Lê Hà Vĩnh T1 người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, xét: Tòa sơ thẩm xác định đây là vụ án: Tranh chấp quyền sử dụng đất, nên việc Tòa sơ thẩm cho rằng không tống đạt được văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Minh K1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa đủ điều kiện khởi kiện, nên Đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định, nên đề nghị Hội đồng phiên họp chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 2290/2023/Q ĐST-DS ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
XÉT THẤY
Về thủ tục: Kháng cáo của ông Lê Hà Vĩnh T1 là hợp lệ theo khoản 2 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được xem xét tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét thấy, ngày 16/8/2005 bà Huỳnh Thị Mỹ T nộp đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Tấn N tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đã được thụ lý vào ngày 14/10/2005. Bà Huỳnh Thị Mỹ T yêu cầu ông Huỳnh Tấn N và bà Nguyễn Thị H trả lại nhà đất số E G, Khu phố D, phường T, quận T (sau đổi là Thành phố T) nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh cho bà Huỳnh Thị Mỹ T vì bà Huỳnh Thị Mỹ T là người đã bỏ tiền ra mua đất và xây dựng nhà số E G, Khu phố D, phường T, quận T (cũ).
Ngày 09/02/2022 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T là ông Lê Hà Vĩnh T1 có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung: Yêu cầu chia thừa kế đối với di sản là nhà đất số E G (nêu trên) của ông Huỳnh Tấn Đ1 (chết năm 2009) và bà Nguyễn Thị S (chết năm 2019) để lại.
Sau đó ngày 26/9/2022, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hà Vĩnh T1 rút đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung (rút yêu cầu chia thừa kế nhà, đất tại số E G).
Như vậy, có căn cứ xác định đây là tranh chấp: Quyền sử dụng đất như đơn khởi kiện ban đầu của nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ T chứ không phải tranh chấp thừa kế đối với di sản là nhà đất số E G (nêu trên) của ông Huỳnh Tấn Đ1 (chết năm 2009) và bà Nguyễn Thị S (chết năm 2019) để lại.
Đồng thời tại tại “Đơn tường trình về nguồn gốc tài sản” (Về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất) của bà Nguyễn Thị S, sinh ngày 30/8/1931; Hộ chiếu số: xxx.xxx.xxx nơi cấp: Hoa Kỳ; Địa chỉ thường trú: 3507 C, Fremont CA 94538. Đơn của bà S đề ngày 22/01/2018 được Tổng lãnh sự quán nước CHXHCNVN tại San Francisco chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự ngày 08/3/2018 (BL526-534), nội dung đơn: Bà Nguyễn Thị S khẳng định nhà đất tại số E G không phải là tài sản chung của vợ chồng bà S và ông Huỳnh Tấn Đ1 mà là của nguyên đơn Huỳnh Thị Mỹ T với chồng là Nguyễn Đức C2 bỏ tiền nhận chuyển nhượng đất và xây dựng nhà nhờ con dâu là Nguyễn Thị H đứng tên giùm, nên bà S mong muốn Tòa án xem xét buộc ông Huỳnh Tấn N và bà Nguyễn Thị H trả lại toàn bộ tài sản tại số E G cho bà Huỳnh Thị Mỹ T và chồng bà T là ông Đỗ Đức C1 và đây cũng là di nguyện của bà S cùng chồng là ông Huỳnh Tấn Đ1.
Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng: Ông Huỳnh Tấn Đ1 và bà Nguyễn Thị S có 10 (mười) người con chung gồm các ông bà sau đây: Huỳnh Thị Mỹ L, Huỳnh Thị Mỹ T, Huỳnh Tấn K, Huỳnh Tấn N, Huỳnh Minh C (chết năm 2019), Huỳnh Minh K1, Huỳnh Thị Mỹ L, Huỳnh Hữu T3, Huỳnh Minh T4 và Huỳnh Thị Mỹ Y. Bà Huỳnh Thị Mỹ L, ông Huỳnh Minh K1, ông Huỳnh Hữu T3, ông Huỳnh Minh T4 và bà Huỳnh Thị Mỹ Y đang định cư tại Hoa Kỳ và không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án nên khi giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bà Huỳnh Thị Mỹ L, ông Huỳnh Minh K1, ông Huỳnh Hữu T3, ông Huỳnh Minh T4 và bà Huỳnh Thị Mỹ Y ở nước ngoài theo địa chỉ do đương sự cung cấp.
Ngày 05/5/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được Công văn số 980/BTP-PLQT của Bộ Tư pháp về việc thông báo kết quả ủy thác tư pháp đối với ông Huỳnh Minh K1 tại địa chỉ B S, G, TX G, USA như sau: “…Cơ quan có thẩm quyền của H3 chủng quốc Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác tư pháp đối với ông Huỳnh Minh K1” vì không ai xác định được ông Huỳnh Minh K1 có sinh sống, cư trú tại địa chỉ trên hay không nên không thể thực hiện được việc tống đạt cho đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án, tại bản khai ngày 25/7/2023 của ông Lê Hà Vĩnh T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T; bị đơn ông Huỳnh Tấn N đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Hoàng V2, bà Phạm Thị Thùy L2, bà Huỳnh Hoàng Phương A có tự khai ngày 25/7/2023 cùng xá định ngoài địa chỉ của ông Huỳnh Minh K1 tại B S, G, TX G, USA thì các đương sự không thể cung cấp được địa chỉ nào khác của ông Huỳnh Minh K1 theo yêu cầu của Tòa án.
Ông Huỳnh Tấn K, ông Huỳnh Thế B (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Minh C), ông Huỳnh Minh H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ về việc yêu cầu cung cấp cho Tòa án những thông tin, tài liệu, chứng cứ về địa chỉ hiện nay của ông Huỳnh Minh K1 nhưng ông Huỳnh Tấn K, ông Huỳnh Thế B, ông Huỳnh Minh H1 đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không thu thập được thông tin, tài liệu, chứng cứ về địa chỉ nào khác của ông Huỳnh Minh K1.
Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm b khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, do: Chưa đủ điều kiện khởi kiện là không đúng quy định. Vì: Như đã xác định trên, đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất (ai là người có quyền sử dụng đất) giữa nguyên đơn với bị đơn chứ không phải tranh chấp thừa kế tài sản của là di sản của ông Huỳnh Tấn Đ1 và bà Nguyễn Thị S chết để lại. Nên việc vắng mặt ông Huỳnh Minh K1 không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do Tòa án còn có quyền căn cứ vào các chứng cứ khác do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho nên, Hội đồng phiên họp thống nhất với quan điểm của Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm; chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hà Vĩnh T1 người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 2290/2023/QĐST-DS ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Huỳnh Thị Mỹ T không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T (do ông Lê Hà Vĩnh T1 làm đại diện kháng cáo).
Hủy Quyết định số: 2290/2023/QĐST-DS ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, về việc: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số: 484/2005/TLST-DS ngày 19/9/2005 “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
2. Chuyển hồ sơ vụ án vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
3. Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng được quyết định khi giải quyết lại sơ thẩm.
4. Về án phí phúc thẩm: Bà Huỳnh Thị Mỹ T không phải nộp.
5. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TANDTC; - VCT&KSXXPT tại TP . HCM; - TAND Tp.HCM; - VKSND Tp . HCM; - THADS Tp . HCM; - Các đương sự (23); - Lưu VP (6), HS (2). QĐ-36. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Tửu |