vanban.org

Quyết định 212/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 27/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt Phạm Thị N 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang là ngày 05/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN ND QUẬN HK
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 212/2022/HSST
Ngày 27 tháng 10 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Đào Phương Mai

Bà Chu Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Lê - Thư ký Tòa án nhân dân quận HK.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận HK tham gia phiên toà: Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận HK xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 220/2022/TLST-HS ngày 10/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: PHẠM THỊ N ; Sinh năm: 1967; giới tính ; Nữ ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại : 118B QT, phường QT, quận BĐ, HN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Họ tên cha: Phạm Văn T (đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị Đ (đã chết); Có chồng là Nguyễn Đăng G - sinh năm 1959; Có 01 con; Danh bản số: 369 lập ngày 11/7/2022 tại Công an quận HK Hà Nội.

Nhân thân: 03 tiền sự, 01 tiền án

- Tiền sự: Tháng 8,9/2000, Công an quận BĐ xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Tháng 2/2004, đi cai nghiện bắt buộc 24 tháng

- Đều ngoài thời hiệu.

- Tiền án : Ngày 12/8/1999, Tòa án nhân dân quận BĐ xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản công dân (AS : 198/HSST). - Án tích đã xóa.

Bắt phạm tội quả tang : 05/7/2022; Tạm giữ : 06/7/2022; Tạm giam: 12/7/2022 ; Số giam : 3391B2/M1-2.

Hiện bị can bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/7/2022, tổ công tác Công an phường PT làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện Phạm Thị N đi xe đạp trước cửa số 193B HH, phường PT, quận HK, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của N đang mặc có 01 gói nilông, bên trong có 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, N khai là ma túy Heroin được T (bạn xã hội) cho để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản, đưa N cùng tang vật về trụ sở công an phường PT làm việc.

Ngoài ra thu giữ của N 01 chiếc xe đạp màu đen đã cũ.

Tại bản Kết luận giám định số 4915/KLGĐ-PC09 ngày 14/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng (được bọc bên ngoài bằng nilông màu trắng) là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,106 gam.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N : không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị N khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/7/2022, N một mình đến khu vực gầm cầu Long Biên để tìm bạn xin ma túy về sử dụng. Khi đến ngõ 195 HH, phường PT, quận HK, Hà Nội, N gặp và được T (bạn xã hội, không biết họ tên, địa chỉ) cho 01 gói nilông chứa ma túy Heroin để sử dụng. N cất ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, khi đến trước cửa 193B HH thì bị kiểm tra, bắt giữ như nêu trên. Chiếc xe đạp là của N sử dụng cá nhân.

Về đối tượng T cho N ma túy : N khai không biết họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 215/CT-VKS ngày 05/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận HK truy tố Phạm Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận HK giữ quyền công tố luận tội, sau khi phân tích tính chất hành vi của bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy, tịch thu sung quỹ Nhà nước xe đạp đã cũ thu giữ của bị cáo. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận HK, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận HK, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

. Về tội danh:

Bị cáo khai nhận tại phiên tòa về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/7/2022, tại trước cửa số 193B HH, phường PT, quận HK, Hà Nội, Phạm Thị N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,106 gam ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật.

. Trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được ma túy là loại độc dược có hại cho sức khỏe của con người. Bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo có 03 tiền sự đã ngoài thời hiệu, 01 tiền án đã được xóa thể hiện nhân thân xấu, đã được Nhà nước giáo dục nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo cần xử phạt tù giam nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội để đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

. Xử lý tang vật:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe đạp đã cũ do có liên quan đến hành vi phạm tội.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với đối tượng cho bị cáo ma túy, quá trình điều tra không có điều kiện xác định, xác minh làm rõ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng:

+ Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử phạt Phạm Thị N 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt phạm tội quả tang là ngày 05/7/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

-Tịch thu tiêu hủy : 01 phong bì được dán kín có chữ ký của giám định viên, đương sự, người làm chứng, cán bộ công an phường, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 gói giấy màu vàng chứa 0,106 gam ma túy loại Heroine (PC09 trích mẫu 0,020 gam, còn lại 0,086 gam.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc xe đạp màu đen đã cũ, đã qua sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Tang vật hiện đang giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận HK theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 25/10/2022 giữa Công an quận HK và Chi cục thi hành án dân sự quận HK.

4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ