vanban.org

Quyết định 21/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn N, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1991, hộ khẩu thường trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện LT có quyền kiến nghị, Viện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn N, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1991, hộ khẩu thường trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LT
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/QĐ-TALT, ngày 22 tháng 9 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LT,TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Kim Thị Ánh Vân

2. Thư ký phiên họp: Ông Trần Mạnh Tuấn

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LT, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 19/QĐ-TA ngày 18 tháng 9 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Hoàng Văn N, sinh ngày 04/10/1991; Hộ khẩu thường trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Chỗ ở: Lang thang (không có nơi cư trú ổn định); Giới tính: Nam; Dân tộc: Giáy; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Không.Tiền án: 01, tiền sự: Không.

Con ông: Hoàng Văn Q (đã chết) và bà Hoàng Thị P.

Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Hà- Phó Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện LT.

+ Người được ủy quyền: Bà Hà Thị Hồng Nhung- Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động Thưng binh và xã hội (Theo văn bản ủy quyền ngày 21/9/2023)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT: Bà Trần Thị Thúy Nga-Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hoàng Văn N là đối tượng nghiện ma túy vào hồi 12 giờ 15 phút, ngày 10/9/2023 tổ công tác Công an xã T, huyện LT làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại thôn Vọng Sơn, xã T, huyện LT phát hiện Hoàng Văn N có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tiến hành kiểm tra N tự nhận vừa sử dụng ma túy tại nghĩa trang Đồi Cả thuộc thôn V, xã T, tổ công tác lập biên bản ghi nhận sự việc, thu giữ tang vật và đưa N về trụ sở Công an xã T, tiến hành lấy lời khai và thu mẫu để xét nghiệm nước tiểu của N. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 10/9/2023 của Trạm Y tế xã T, huyện LT xác định N có nghiện ma túy loại Heroine. Công an xã T đã lập biên bản giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc viện thay thế theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ nhưng Nam từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ủy ban nhân dân xã T tiến hành lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện đối với N. Ngày 10/9/2023 Ủy ban nhân dân xã T ra Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cùng ngày đã bàn giao N cho Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại bản tường trình và biên bản lấy lời khai N thể hiện: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2020, hình thức sử dụng là chích tần suất sử dụng một lần/ngày, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 10/9/2023. N thường lang thang ở nhiều nơi khác nhau, không đăng ký tham gia cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện LT đề nghị Tòa án nhân dân huyện LT xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đề nghị Tòa án nhân dân huyện LT căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 49, 59 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp, tuy nhiên trong biên bản ghi lời khai và bản tường trình đã thừa nhận hành vi sử dụng ma túy trái phép và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, thấy rằng:

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và hướng dẫn tại các Điều 40, 41, 42 và 43 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị áp dụng: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của N đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh về tệ nạn ma túy trong xã hội. Mặc dù, nhận thức rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép chất ma túy nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng bản thân nên N đã nghiện ma túy từ năm 2020 cho đến nay. Tiến hành xác minh tại địa phương nơi N đăng ký thường trú và làm việc với gia đình Nam, xác định N không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang không ở địa phương và gia đình. Đến nay, mặc dù vẫn đang nghiện ma túy, Công an xã đã lập biên bản yêu cầu trong thời hạn 05 ngày phải đến Uỷ ban nhân dân xã T để đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng N từ chối, không muốn cai nghiện ma túy tự nguyện, do vậy N thuộc trường hợp “không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện” theo khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Do vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N để có điều kiện cải tạo bản thân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại phiên họp N vắng mặt, các tài liệu trong hồ sơ thể hiện N là người nghiện chất ma túy và đã thành khẩn khai nhận về hành vi vi phạm của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính; N không có tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có tác động rất xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự phát triển trí tuệ, thể chất của con người, làm suy thoái đạo đức và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm. Do đó việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N như đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT là cần thiết và hoàn toàn phù hợp pháp luật.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 49, 59 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn N.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Văn N, sinh ngày 04 tháng 10 năm 1991, hộ khẩu thường trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện LT có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân huyện LT có quyền kháng nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện LT phối hợp với Công an huyện LT có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Cỡ chữ