vanban.org

Quyết định 21/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 10 (mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Thôn D, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục Tòa án nhân…; Thông tư số 18/2021/TT-BYT Quy định tiêu chuẩn chẩn đoán và…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/QĐ-TACư Kuin, ngày 25 tháng 12 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi

vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp

2. Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 17/QĐ - TA ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Y Th B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 28 tháng 10 năm 2008; Dân tộc: Ê Đê; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nơi cư trú: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Y M B1 và bà Hồ Thị Kim T; Tiền án, tiền sự: Không; Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Nguyễn Thị Bích L – Chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C (Có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên họp: Ông Trần Đình Phương - Kiểm sát viên (Có mặt).

3. Người đại diện hợp pháp của Y Th B: Ông Y M B1, sinh năm 1981 (bố đẻ của Y Th B). Địa chỉ: Buôn E, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Y Th B: Ông Phùng Văn H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (Có mặt)

NHẬN THẤY:

Y Th B bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 5 năm 2023, loại ma túy sử dụng: Ma túy đá (Amphetamine, Methamphetamine); hình thức sử dụng: hút, trung bình 02 lần 01 tuần. Ngày 08/11/2023 Y Th B có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện và đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy tại bệnh viện đa khoa thành phố B. Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 08/11/2023 của bệnh viện đa khoa thành phố B xác định Y Th B dương tính với ma túy, loại Amphetamine (AMP), Methamphetamine. Sau đó, Công an xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk thông báo cho Y Th B về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Y Th B không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện. Vì vậy, Công an xã E lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo thông báo số 116/TB-UBND ngày 14/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã E.

Tại Biên bản xác nhận ý kiến của cha mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp về việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, bố đẻ của Y Th B là bà Y M B1 đồng ý với việc Công an xã E và Ủy ban nhân dân xã E lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B.

Tại Văn bản đề nghị số 111/ĐN-CNBB ngày 17/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã E Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B.

Tại Văn bản đề nghị số 947/ĐN-CNBB ngày 05/12/2023 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C và ý kiến của người đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C tại phiên họp đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời gian từ 09 tháng đến 12 tháng.

Tại phiên họp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Y Th B trình bày: Đồng ý với việc đề nghị áp dụng biện pháp vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở điều trị, cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B với thời gian từ 06 tháng đến 09 tháng để Y Th B được sớm được trở về hòa nhập cộng đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin phát biểu ý kiến tại phiên họp: Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục Tòa án xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Căn cứ Điều 33 và Điều 34 Luật phòng chống ma túy năm 2021.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đại diện cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY:

Y Th B là người nghiện ma túy từ đủ 12 đến dưới trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định. Ngày 08/11/2023 Y Th B có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị công an xã E, huyện C phát hiện và đưa đi xác định tình trạng nghiện ma túy tại bệnh viện đa khoa thành phố B. Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 08/11/2023 của bệnh viện đa khoa thành phố B xác định Y Th B dương tính với ma túy, loại Amphetamine (AMP), Methamphetamine. Sau đó Công an xã E đã thông báo cho Y Th B về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Y Th B không đăng ký. Căn cứ khoản 1 Điều 33 Luật phòng chống ma túy năm 2021 thì Y Th B thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Vì vậy, việc Công an xã E, huyện C lập hồ sơ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị Tòa án xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B là có căn cứ. Hồ sơ đề nghị gồm có: Biên bản vi phạm hành chính; Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị; Phiếu xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy của Bệnh viên đa khoa thành phố Buôn Ma T1; Bản tường trình của người bị đề nghị; Văn bản xác nhận ý kiến của cha, mẹ của người bị đề nghị; Thông báo số 116/TB-UBND ngày 14/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã E về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Thông báo số 111/ĐN-CBNN ngày 17/11/2023 đề nghị về việc xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Ủy ban nhân dân xã E và Văn bản đề nghị số 947/ĐN-CBNN ngày 05/12/2023 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật phòng chống ma túy và khoản 1 Điều 51 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Y Th B là nguy hiểm cho xã hội, không những làm suy thoái về sức khỏe và đạo đức của bản thân mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Y Th B là người có đủ khả năng nhận thức tác hại của ma túy và hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy nhưng vẫn vi phạm. Vì vậy, cần phải áp dụng mức thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc hợp lý để được chữa bệnh và học tập thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên họp Y Th B vắng mặt tại phiên họp, tuy nhiên Y Th B là người đồng bào dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp nên cần xem xét giảm một phần thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc cho Y Th B là phù hợp.

Xét mức thời gian đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B của cơ quan đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 95, 96, 103, 104, 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 34 Luật phòng chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 5 Nghị định số 109/2021/NĐ-CP ngày 08/12/2021 quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy và Thông tư số 18/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 quy định tiêu chuẩn đoán và quy trình chuyên môn để xác định tình trạng nghiện ma túy; Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 quy định trình tự, thủ tục tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

1. Áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Y Th B.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 10 (mười) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk (Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị áp dụng, cha mẹ của người bị áp dụng vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện C, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

Cỡ chữ