- Tranh chấp gì? "Quyết định ADBPXL hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với Phàng Thị M.
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 21/QĐ-TA | B, ngày 08 tháng 8 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hòa.
2. Thư ký phiên họp: bà Đinh Thị Viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 21/QĐ-TA ngày 02 tháng 8 năm 2019 đối với:
Họ và tên: Phàng Thị M. Giới tính: Nữ. Sinh ngày 31/12/1976; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: chưa qua đào tạo; Nguyên quán: xã C, huyện B, tỉnh Sơn La. Hộ khẩu thường trú: bản Sg, xã C, huyện B, tỉnh Sơn La. Chỗ ở: bản S, xã C, huyện B, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: nông dân; Tiền án: không; tiền sự: ngày 23/5/2019 bị Ủy ban nhân dân xã C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng; con ông: Phàng A P và bà Giàng Thị M; có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hà Huy Hoàng, Trưởng Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Sơn La; có mặt.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La: Ông Mùa A Hay, Kiểm sát viên; có mặt.
NHẬN THẤY:
Ngày 23/5/2019 chị Phàng Thị M bị Ủy ban nhân dân (UBND) xã C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã nhưng chị Phàng Thị M vẫn tiếp tục sử dụng và đến ngày 17/7/2019 bị Công an xã Chiềng S, huyện B, tỉnh Sơn La lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với chị Phàng Thị M; chị M khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy ma túy Heroine ngày 15/7/2019 trước khi bị lập biên bản. Tiến hành lấy mẫu (nước tiểu) của chị M và xét nghiệm chất ma túy; kết quả xét nghiệm: Dương tính (+) chất ma túy nên đã lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để chữa bệnh, lao động và học tập.
Tại công văn đề nghị số 192/LĐTBXH ngày 31/7/2019 và tại phiên họp, Đại diện Phòng Lao động –Thương binh và Xã hội ý kiến: chị Phàng Thị M là người sử dụng trái phép chất ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng bản thân chị M vẫn không tiến bộ, tiếp tục có hành vi vi phạm do vậy đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với chị Phàng Thị M, thời gian 18 tháng.
Người bị đề nghị chị Phàng Thị M ý kiến: Bản thân sử dụng trái phép chất ma túy (Heroin), được giáo dục tại xã, đã được vận động cải nghiện nhưng đến nay vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; nay nhất trí đi cai nghiện theo đề nghị của cơ quan chức năng.
Cơ quan đề nghị và người bị đề nghị đối đáp tranh luận nhưng không ai có ý kiến gì thêm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện B ý kiến: Tòa án nhân dân huyện B đã thụ lý, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng thẩm quyền, thời hạn; Thẩm phán, Thư ký thực hiện phiên họp đúng trình tự tố tụng được quy định tại Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Người bị đề nghị Phàng Thị M có mặt và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân huyện B nhất trì với đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B đưa Phàng Thị M vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Phàng Thị M là đảm bảo tính hợp pháp về đối tượng, thời hiệu, thời hạn, thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ; các tài liệu, chứng cứ, xác minh người nghiện ma túy được thu thập đúng quy định, đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người bị đề nghị và có căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 221/2013/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định 136/2016/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 221/2013/NĐ-CP.
Xét về tính chất mức độ của hành vi thấy: chị Phàng Thị M đã bị UBND xã C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Quyết định số 298/QĐ-UBND ngày 23/5/2019 với thời hạn 03 tháng, trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã chị M vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên UBND xã C buộc phải chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và không được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, được chứng minh bằng Bản tường trình, biên bản vi phạm hành chính, biên bản xét nghiệm chất ma túy, trong đó: chị Phàng Thị M đều khai và điểm chỉ, xác nhận là chưa từ bỏ được chất ma túy, lời khai nhận là phù hợp với kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 20/7/2019 của Trạm Y tế xã C, xác định: Dương tính (+) với ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phàng Thị M là hành vi vi phạm pháp luật về cấm sử dụng trái pháp chất ma túy theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; tuy hành vi đó không là tội phạm hình sự nhưng đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã gây hậu quả tác hại cho sức khoẻ, sự phát triển về thể chất, phẩm giá con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác.
Xét về tình tiết tăng nặng: chị Phàng Thị M không phạm tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét về tình tiết giảm nhẹ, nhân thân: chị Phàng Thị M đã tự nguyện khai báo. Do đó, xét cho M hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Như vậy, Phàng Thị M là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không có hiệu quả, vẫn còn nghiện nên áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La, với thời hạn nhất định nhằm mục đích trị liệu, giúp chị M nhận thức được giá trị của lao động, rèn luyện và phục hồi kỹ năng lao động đã bị suy giảm do nghiện ma túy là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật và ý kiến của những người tham gia phiên họp.
Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 02, 11, 12, 16, 20, 22, 30, 31 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Căn cứ Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Nghị định 136/2016/CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị đinh 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Sơn La đối với Phàng Thị M.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: chị Phàng Thị M có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện B, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện B có trách nhiệm phối hợp thi hành quyết định này.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Phòng KTNV Tòa án nhân dân tỉnh; - Trưởng Công an huyện B; - Trưởng Phòng Lao động – TB&XH huyện B; - VKSND huyện B; - Trung tâm GDLĐ (Cơ sở điều trị nghiện ma túy) …; - UBND xã nơi người bị đề nghị cư trú; - Người bị đề nghị (niêm yết); - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Văn Hòa |