- Tranh chấp gì? án hành chính — "“Yêu cầu hủy các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và yêu cầu bồi thường”"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà L là bà Nguyễn Thị O;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số 21/2025/QĐPT-HC | Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Tự Học.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Mạnh Tiến;
Ông Ong Thân Thắng.
Thư ký phiên họp: Ông Thái Duy Khánh, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 307/2024/QĐST-HC ngày 13 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 165 Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Yêu cầu hủy các quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai và yêu cầu bồi thường”, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1939; địa chỉ: số nhà 11, ngõ 141, ngách 67, tổ 17, phố Giáp Nh, phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1975; địa chỉ: số 10B ngõ 99/110/66 phố Định Công H, phường Định Công, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Vũ Hồng Th và luật sư Bùi Văn Đ - Văn phòng luật sư Vũ Hồng Th, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
* Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 08, ngõ 6, phố Bùi Huy B, khu Trung tâm hành chính Quận, phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh T - Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm Tiến Th1 - Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Đồng Thị Như H1 - Phó Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất quận.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 08, ngõ 6, phố Bùi Huy B, khu Trung tâm hành chính Quận, phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm Tiến Th1 - Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Đồng Thị Như Hoa - Phó Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất quận.
3. Sở Xây dựng thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 258, đường Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Nguyên Ph - Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Luyện Văn Phương - Phó Giám đốc.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 79, phố Đinh Tiên Hoàng, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Sỹ Th2 - Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng Đ1 - Phó Chủ tịch.
2. Ủy ban nhân dân phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 90 phố Giáp Nh, phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; Ngươi đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn Hòa - Chủ tịch.
3. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 375 đường Ngọc Hồi, thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Tr, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến C - Chủ tịch.
4. Ủy ban nhân dân phường Giáp Bát, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; địa chỉ: số 18, ngõ 4, phố Kim Đồng, phường Giáp Bát, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế T1 - Chủ tịch.
5. Tập đoàn GELEXIMCO - Công ty CP (tên gọi cũ: Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội); trụ sở: số 36 Hoàng C1, phường Ô Chợ D, quận Đống Đ2, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn T2 - Chủ tịch Hội đồng quản trị/Tổng Giám đốc.
6. Chị Đặng Thị Th3, sinh năm 1963;
7. Anh Đặng Văn Tr1, sinh năm 1965;
8. Anh Đặng Văn L2, sinh năm 1969;
9. Chị Đặng Thị H2, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: số nhà 11, ngõ 141 ngách 67, tổ 17, phố Giáp Nh, phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội.
Ngày 18/9/2024, người khởi kiện bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà L là bà Nguyễn Thị O kháng cáo đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 307/2024/QĐST-HC ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Tại phiên họp phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà L là là Nguyễn Thị O; giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 307/2024/QĐST-HC ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng phúc thẩm nhận định như sau:
. Ngày 13/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 307/2024/QĐST-HC. Ngày 05/10/2024, bà Nguyễn Thị L nhận được Quyết định đình chỉ (theo biên bản giao nhận). Ngày 18/9/2024, bà L có đơn kháng cáo gửi Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ số 307/2024/QĐST-HC. Căn cứ các Điều 204, 205, 206 Luật Tố tụng hành chính, đơn kháng cáo của bà L đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Theo quy định tại điểm c khoản 1 khoản Điều 226 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập đương sự.
. Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, Hội đồng phúc thẩm xét thấy:
. Tại Văn bản giao đất sản xuất nông nghiệp ngày 10/3/1993, Hợp tác xã nông nghiệp Thịnh L1 đã giao cho bà Nguyễn Thị L chủ gia đình thuộc Đội 4 được quyền quản lý sử dụng 114m2 đất hồ vi-a cạnh bến xe phía Nam thuộc tổ 15, phường Thịnh L1, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội để phát triển sản xuất nông nghiệp trồng cây lương thực, rau, màu, nuôi trồng thủy sản. Diện tích 114m2 là đất vườn ổn định. Thời gian giao để bà quản lý sử dụng là 15 năm.
Ngày 10/02/1999, UBND thành phố Hà Nội có Quyết định số 770/QĐ-UB về việc giao và cho thuê 9390m2 đất tại xã Thịnh L1, huyện Thanh Tr cho Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Tổng hợp (nay là Tập đoàn Geleximco) để xây dựng chợ Đuôi Cá.
Theo quy định của pháp luật giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2003, UBND huyện Thanh Tr đã thành lập Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng theo quy định tại Điều 34 đến Điều 38 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính Phủ; Điều 16 Quyết định số 20/1998/QĐ-UB ngày 30/6/1998 của UBND thành phố Hà Nội; Quyết định số 72/2001/QĐ-UB ngày 17/9/2001 của UBND thành phố Hà Nội; Quyết định số 15/2002/QĐ-UBND ngày 27/11/2002 của UBND thành phố Hà Nội điều chỉnh nội dung quy định tại khoản 4 Điều 8 Quyết định số 72/2001/QĐ-UBND ngày 17/9/2001 của UBND thành phố Hà Nội. UBND huyện Thanh Tr có Quyết định số 1277/QĐ-UB ngày 15/9/2003 về việc phê duyệt phương án đền bù và hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện dự án là đúng quy định.
Ngày 15/9/2003, UBND huyện Thanh Tr (nay là UBND quận Hoàng M) đã ban hành Quyết định số 1277/QĐ-UBND ngày 15/9/2003, kèm theo Bảng tổng hợp phương án hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng Dự án chợ Đuôi cá, xã Thịnh L1, huyện Thanh Tr, về việc: Phê duyệt phương án đền bù, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng Chợ Đuôi Cá của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu tổng hợp tại xã Thịnh L1, huyện Thanh Tr, có nội dung: Phê duyệt phương án đền bù, hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng chợ Đuôi Cá của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu tổng hợp tại xã Thịnh L1, huyện Thanh Tr, trong đó tổng số hộ bị thu hồi là 55 hộ gồm có hộ bà Nguyễn Thị L; Diện tích đất bị thu hồi:114m2; Đền bù hỗ trợ đất: 10.426.230 đồng; Đền bù đất nông nghiệp: 10.426.230 đồng; Thưởng tiến độ theo quy định: 279.000 đồng; Tổng cộng 10.705.230 đồng. Theo bà O là người đại diện theo ủy quyền của bà L Trnh bày thì giá đền bù này không phù hợp với giá trị thực tế nhà đất của gia đình nên hộ gia đình bà L đã không nhận tiền đền bù, không thực hiện bàn giao mặt bằng nhưng cũng không đi khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính nêu trên đối với Dự án xây dựng chợ Đuôi Cá. Lời khai của bà O cũng thể hiện việc bà L không ký vào đơn khiếu nại nào; bà L ủy quyền miệng cho bà Đoàn Thị Loan và ông Bùi Thế Vũ khiếu nại lên UBND quận Hoàng M, UBND thành phố Hà Nội đến nay không được giải quyết. Bà L không nhận được bất cứ văn bản nào của UBND quận Hoàng M và UBND thành phố Hà Nội và không ai giao cho bà.
Luật Đấi đai năm 1993 và Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ không quy định khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án phải có thông báo thu hồi đất và quyết định thu hồi đất đến từng hộ gia đình bị thu hồi đất. Điều 6 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 72/2001/QĐ-UB ngày 17/9/2001 của UBND thành phố Hà Nội về Trnh tự, thủ tục tổ chức thực hiện công tác bồi thường thiệt hại, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội, quy định: Trước khi UBND quận (huyện) quyết định phê duyêt phương án bồi thường thiệt hại và tại định cư được niêm yết công khai tại trụ sở UBND phường (xã, thị trấn) để người bị thu hồi đất rà soát và có ý kiến lần cuối cùng trong thời hạn 03 ngày. Thực hiện quy định này UBND xã Thịnh L1 đã phối hợp với chủ dự án tổ chức phương án bồi thường, hỗ trợ chi tiết đến từng hộ dân có đất bị thu hồi và niêm yết công khai: Phương án tổng hợp tại trụ sở UBND xã Thịnh L1 kể từ ngày 09/9/2003 đến hết ngày 11/9/2003 để các hộ kiểm tra theo Thông báo số 30/TB-UB ngày 08/9/2003 của UBND xã Thịnh L1 về việc công khai phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đợt 2 thực hiện Dự án Chợ Đuôi cá. Ngày 15/9/2003, UBND huyện Thanh Tr ban hành Quyết định số 1277/QĐ-UB về việc phê duyệt phương án đền bù và hỗ trợ giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án xây dựng chợ Đuôi Cá của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội tại xã Thịnh L1, huyện Thanh Tr. Quyết định số 1277/QĐ-UB không bắt buộc phải giao đến từng hộ dân và đã được công khai tại UBND xã Thịnh L1 thể hiện tại Biên bản làm việc của UBND huyện Thanh Tr.
Như vậy có căn cứ xác định: Hộ gia đình bà L là chủ sử dụng diện tích đất 114m2 đất hồ vi-a bị thu hồi theo các quyết định hành chính nêu trên, bà L đã biết và lấy được bản phô tô Quyết định hành chính số 1277/QĐ-UB nhưng không khiếu nại các Quyết định hành chính liên quan đến dự án trên, trong đó có Quyết định số 1277/QĐ-UB. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà O là đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày: Do nhận thức pháp luật hạn chế nên mặc dù bà L được biết Quyết định số 1277/QĐ-UB của UBND huyện Thanh Tr từ năm 2013 nhưng bà không khởi kiện vụ án hành chính mà ủy quyền bằng miệng cho bà Đoàn Thị L3 và ông Bùi Thế V đi khiếu nại lên UBND quận Hoàng M, thành phố Hà Nội đến nay không được giải quyết nhưng không có tài liệu về việc ủy quyền này và việc bà L3, ông V đã thực hiện việc ủy quyền này đến đâu, kết quả ra sao.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính xác định thời hiệu khởi kiện Quyết định hành chính số 1277/QĐ-UB ngày 15/9/2003 của bà Nguyễn Thị L đã hết là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Đối với yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 1916/QĐ-CC ngày 20/10/2006, về việc cưỡng chế thi hành Quyết định số 1916/QĐ-CC ngày 20/10/2006 của Chủ tịch UBND quận Hoàng M thấy: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện UBND phường Thịnh L1 đã tổ chức giao cho bà L Quyết định này vào ngày 20/10/2006, bà L đã nghe đọc Quyết định cưỡng chế số 1916/UB-CC nhưng không ký vào biên bản tống đạt và không nhận quyết định trên nên đến nay đã hết thời hiệu khởi kiện.
Ngày 12/12/2006, UBND phường Thịnh L1 phối hợp với các phòng, ban, đơn vị quận Hoàng M thực hiện cưỡng chế theo Quyết định số 1916/QĐ-CC về việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hộ gia đình bà Nguyễn Thị L và lập biên bản quá trình thực hiện, trong đó có nội dung đã hoàn thành việc cưỡng chế và không thu giữ bất kỳ tài sản gì. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu trả lại toàn bộ tài sản trên đất cho gia đình bà L là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
. Đối với yêu cầu tuyên hủy Giấy phép xây dựng số 81/GPXD ngày 27/11/2019 của Sở Xây dựng cấp cho Tập đoàn Geleximco, thấy: Diện tích đất của hộ gia đình bà Nguyễn Thị L đã bị thu hồi theo Quyết định số 770/QĐ-UB ngày 10/02/1999 của UBND thành phố Hà Nội có nội dung thu hồi 9.390m2 đất để thực hiện Dự án xây dựng chợ Đuôi Cá nên bà L không còn quyền sử dụng đối với thửa đất này nữa, đến nay Quyết định số 770/QĐ-UB ngày 10/02/1999 hiện chưa bị hủy bỏ. Quá trình thực hiện dự án, UBND thành phố Hà Nội đã có các quyết định điều chỉnh thay đổi pháp nhân thực hiện dự án là Công ty TNHH Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (nay là Tập đoàn Geleximco - Công ty CP) và thay đổi mục đích sử dụng diện tích đất này. Ngày 04/11/2019, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 6192/QĐ-UBND về việc cho phép Tập đoàn Geleximco-Công ty CP chuyển mục đích sử dụng 8.028,9m2 đất (đợt 1) tại phường Giáp Bát, quận Hoàng M để đầu tư Dự án Khu chức năng hỗn hợp Trung tâm thương mại, văn phòng, dịch vụ công cộng kết hợp nhà ở, chợ và cây xanh. Việc Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng số 81/GPXD ngày 27/11/2019 để Tập đoàn Geleximco thực hiện xây dựng trên diện tích đất được giao không ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L, nên bà L không có quyền khởi kiện đối với giấy phép xây dựng nêu trên.
. Đối với Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề ngày 23/8/3034, nộp tại Tòa án ngày 26/8/2024, do bà Nguyễn Thị O (là người đại diện theo ủy quyền của bà L) và con trai của bà L là anh Đặng Văn Trí ký đơn bổ sung thêm các yêu cầu khởi kiện nhưng không nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bổ sung. Các đơn khởi kiện bổ sung này chỉ có bà O ký không có bà L ký, bà L không có mặt tại Tòa án trong toàn bộ quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nên không có căn cứ pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 117 Luật tố tụng hành chính 2015, không thụ lý các yêu cầu khởi kiện bổ sung và không xem xét giải quyết là phù hợp.
. Với các nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144, Điều 165 Luật Tố tụng hành chính, ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính giữa người khởi kiện là bà Nguyễn Thị L với người bị kiện là UBND và Chủ tịch UBND quận Hoàng M, Sở Xây dựng thành phố Hà Nội là đúng quy định pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà L, bà O.
. Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ, được chấp nhận.
. Về án phí: Do bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà L là bà Nguyễn Thị O;
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 307/2024/QĐST-HC ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
3. Về án phí: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị L.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND Tp Hà Nội; - VKSND Tp Hà Nội; - Cục THADS Tp Hà Nội; - Các đương sự (theo đ/c); - Lưu HCTP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Ngô Tự Học |