vanban.org

Quyết định 21/2025/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bạch Tiến T, sinh ngày 26/8/1993.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bạch Tiến T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bạch Tiến T, sinh ngày 26/8/1993.
  • Căn cứ chính? Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 21/2025/QĐ - TA
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán:

Ông Dương Công H 2. Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hoàn.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh và Cơ sở cai nghiện ma tuý số F, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/2025/QĐ-TA ngày 21 tháng 8 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Bạch Tiến T. Sinh ngày: 26/08/1993.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh.

Số Căn cước công dân: 077093000642, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, ngày cấp: 01/11/2022.

Hộ khẩu thường trú: Số E đường T, phường V, thành phố Hồ Chí Minh.

Chỗ ở: Không nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 12/12.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con ông Bạch Tiến T1, sinh năm 1970 và bà Trà Thị H1, sinh năm 1971.

Đối tượng đang được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6 – Thành phố Hồ Chí Minh. Phiên họp có mặt người bị đề nghị.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Trọng H2 - Chức vụ: Cán bộ Công an xã L, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, thành phố Hồ Chí Minh: Ông Vũ Văn Long - Chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

* Tại Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 13/TB-CAX ngày 20/7/2025 và tại phiên họp xét đề nghị, Công an xã L, thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 19/7/2025, đối tượng Bạch Tiến T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine). Vào lúc 22 giờ 15 phút cùng ngày 19/7/2025, đối tượng T được Công an xã L mời đến trụ sở Công an để làm việc, tại đây qua kiểm tra thì kết quả cho thấy đối tượng dương tính với ma chất ma tuý (Methamphetamine). Ngày 20/7/2025, căn cứ vào kết quả của Trung tâm y tế L, Công an xã L đã có văn bản thông báo kết quả xác định tình trạng của đối tượng Bạch Tiến T là nghiện ma tuý (Methamphetamine).

Qua xác minh, đối tượng Bạch Tiến T có nơi cư trú tại số nhà E đường T, phường V, thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thường xuyên sinh sống tại đây và hiện nay không có nơi cư trú ổn định. Đối tượng Bạch Tiến T không đồng ý cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện công lập, được quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma tuý.

Do đó, Công an xã L, đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Bạch Tiến T, thời gian đề nghị là từ 13 tháng đến 15 tháng.

* Người bị đề nghị trình bày tại biên bản ghi lời khai và tại phiên họp như sau:

Đối tượng Bạch Tiến T là người nghiện ma túy (Methamphetamine), bắt đầu sử dụng ma tuý từ tháng 01 năm 2024 đến nay dẫn đến bị nghiện. Hình thức sử dụng là hút. Từ khi sử dụng ma tuý đá đến nay thì đối tượng hạn chế các hoạt động thể chất và hoạt động xã hội, mối quan hệ chủ yếu là người thân trong gia đình. Đối tượng vẫn nhận thức được việc sử dụng ma tuý có tác hại lớn cho sức khoẻ nhưng vẫn sử dụng.

Vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 19/7/2025 đối tượng T sử dụng ma túy tại xã L và khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Công an xã L mời lên trụ sở làm việc, đối tượng được xét nghiệm chất ma túy thì phát hiện dương tính với chất ma túy (Methamphetamine). Nay đối tượng xin được giảm thời gian cai nghiện bắt buộc.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 trình bày:

- Về trình tự thủ tục: Tòa án nhân dân Khu vực 13 đã thụ lý, thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 3, 8, 9, 10, 12, 13, 17 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Về trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp: Thẩm phán đã thực hiện đúng thành phần phiên họp, trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp theo quy định tại các Điều 18, 19, 20, 21 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ việc, lời trình bày, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị và những người tham gia tố tụng khác đối chiếu với quy định pháp luật, Viện kiểm sát Khu vực 13 đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Công an xã L, đưa đối tượng Bạch Tiến T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian phù hợp.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào ý kiến của kiểm sát viên, đại diện cơ quan đề nghị và người đề nghị.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị xét thấy việc lập và chuyển hồ sơ đề nghị đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính (Được sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, ý kiến của đại diện Công an xã L, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13, Tòa án nhân dân Khu vực 13 nhận định: Ngày 20/7/2025 đối tượng T bị Công an xã L phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính số 43/BB-VPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Căn cứ vào kết quả kiểm tra của Trung tâm y tế L, Công an xã L đã có văn bản thông báo kết quả xác định tình trạng của đối tượng Bạch Tiến T là nghiện ma tuý (Methamphetamine), từ đó xác định T là đối tượng nghiện ma túy.

Xét thấy, đối tượng T là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện việc cai nghiện tự nguyện. Đối tượng T là một công dân trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành vi, biết việc sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật cấm nhưng vẫn vi phạm.

Từ những căn cứ trên thấy phù hợp với Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính (Được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Pháp lệnh số: 03/2022/ UBTVQH15 ngày 13/12/2022 về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nên đủ căn cứ để chấp nhận đề nghị của Công an xã L về việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bạch Tiến T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các điều 3, 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và 131 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Điều 18, 20, 21, 23, 24 Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bạch Tiến T, sinh ngày 26/8/1993. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E đường T, phường V, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở: Không nơi cư trú ổn định.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong thời hạn là 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã L và Cơ sở cai nghiện ma tuý số F, thành phố Hồ Chí Minh. * Nơi nhận:

Cỡ chữ