vanban.org

Quyết định 21/2024/QĐ-TA

TAND huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 09/07/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở cai nghiện ma túy” thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T có trụ sở tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với Nguyễn Đức Trọng N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày 12/5/2024. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Nguyễn Đức Trọng N có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở cai nghiện ma túy” thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T có trụ sở tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với Nguyễn Đức Trọng N.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QĐ số: 21/2024/QĐ-TATân Phước, ngày 09 tháng 7 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI

NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Chung - Thư ký Tòa án.

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với hồ sơ thụ lý số 20/2024/XLVPHC, ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định mở phiên họp số 20/2024/QĐ-TA ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Đức Trọng N; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 16/3/2001 tại tỉnh Tiền Giang;

Số căn cước công dân: 082201015712; Ngày cấp: 11/5/2024; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 06/12;

Nguyên quán: xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định;

Nghề nghiệp: Không;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con của ông Phạm Trung N1 và bà: Nguyễn Thị Mỹ B;

Bị quản lý từ ngày 12/5/2024 cho đến nay tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang. (xin vắng mặt)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn N2 – Chuyên viên Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang, là đại diện theo ủy quyền của ông Dương Hoàng L – Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Phượng Tuyền – Kiểm sát viên. (có mặt)

NHẬN THẤY

Ngày 10/5/2024, Nguyễn Đức Trọng N sử dụng trái phép chất ma túy và bị Công an xã T 1 Lập biên bản vi phạm.

Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 12/5/2024 của Bệnh viện tâm thần tỉnh T kết luận Nguyễn Đức Trọng N có nghiện ma túy dạng Methamphetamine.

- Tại phiên họp hôm nay:

+ Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T giữ nguyên ý kiến, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức Trọng N vì nghiện ma tuý. Thời gian cai nghiện bắt buộc từ 12 đến 15 tháng.

+ Ông Nguyễn Đức Trọng N xin vắng mặt.

+ Kiểm sát viên phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Thẩm phán chấp nhận đề nghị của đại diện Phòng Lao động

- Thương binh và Xã hội huyện T, đưa Nguyễn Đức Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Cơ sở Cai nghiện ma tuý tỉnh Tiền Giang, thời gian từ 12 đến 15 tháng.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận định:

Về thẩm quyền của Toà án: Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Đức Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T nên Tòa án nhân dân huyện Tân Phước thụ lý hồ sơ là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Đức Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đối tượng Nguyễn Đức Trọng N thực hiện hành vi vi phạm hành chính lần cuối vào ngày 10/5/2024, đến nay vẫn còn trong thời hạn 03 tháng nên thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn còn theo quy tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Nguyễn Đức Trọng N là đối tượng nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện, nên Nguyễn Đức Trọng N là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

Về thẩm quyền lập hồ sơ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T lập hồ sơ là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đúng theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 40,41,42 và 43 Nghị định số 116/2020/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ;

Xét hành vi vi phạm của đối tượng: Nguyễn Đức Trọng N là đối tượng nghiện ma túy nhưng không đăng ký, không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện. Khi thực hiện hành vi của mình, đối tượng hoàn toàn ý thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, nhưng do xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật mà đối tượng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của đối tượng Nguyễn Đức Trọng N đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.

Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Những hậu quả do tệ nạn ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Nghiện ma túy làm suy kiệt trí tuệ, hủy hoại sức khỏe con người, ảnh hưởng đến giống nòi; làm cho nhiều gia đình rơi vào cảnh tan nát, bần cùng. Nhưng hiện vẫn còn không ít đối tượng vẫn sử dụng trái phép chất ma túy để tự hủy hoại đời mình, trong đó có đối tượng Nguyễn Đức Trọng N.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Nguyễn Đức Trọng N đã tự nguyện khai báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Về tình tiết tăng nặng: Đối tượng Nguyễn Đức Trọng N không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Do đó cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Nguyễn Đức Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm của đối tượng nhằm giúp đối tượng được chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc để sau khi chấp hành xong thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật, trở thành một công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ Điều 3, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106, Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ Điều 32 Luật Phòng, chống ma tuý;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 4 Điều 13, Điều 17, khoản 1 Điều 30, Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13-12-2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;

Căn cứ Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định số 116/2020/NĐ-CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: “Cơ sở cai nghiện ma túy” thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh T có trụ sở tại xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đối với Nguyễn Đức Trọng N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 tháng, kể từ ngày 12/5/2024.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Nguyễn Đức Trọng N có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện T phối hợp với Công an huyện T đưa đối tượng Nguyễn Đức Trọng N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ