vanban.org

Quyết định 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 26/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hán Chi Y Đi L phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Hán Chi Y Đi L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 06/01/2022. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hán Chi Y Đi Làm, tội Giao cấu với người tủ đủ 13t đến dưới 16t theo K2Đ145 BLHS - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hán Chi Y Đi L phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày: 26/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Huyền Trang –CT. Hội Liên hiệp phụ nữ VN huyện N.

2. Bà Lê Thị Hường– Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen –Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng -Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2022/HSST ngày 29/4/2022 đối với bị cáo:

Hán Chi Y Đi L (Tên gọi khác: Sơn) - sinh năm 2000, tại Ninh Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Chăm; nghề nghiệp: làm thuê; con ông Hán Văn T và bà Tạ Thị C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 06/01/2022, Hán Chi Y Đi L bị Công an huyện N xử phạt hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hiện nay bị cáo chưa chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2022 đến ngày 09/01/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Hán Chi Y Đi L (bị cáo thuộc hộ cận nghèo): Ông Nguyễn Xuân T –Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Bị hại: Cháu Châu Thị C -Sinh ngày 31/12/2006 (có đơn xin vắng mặt).

Trú tại: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Châu Văn T, sinh năm 1962 và bà Đổng Thị Á -Sinh năm 1967 –Là cha mẹ ruột của cháu Châu Thị C. Cùng trú tại: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Châu Thị C (bị hại chưa thành niên): Bà Hoàng Thị Thanh T -Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Người làm chứng:

1. Bà Đổng Thị A, sinh năm: 1967 (có mặt)

2. Ông Châu Văn T, sinh năm: 1962 (có mặt) Cùng trú tại: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

3. Ông Hán Văn Tr, sinh năm: 1966 (có mặt)

4. Bà Tạ Thị C, sinh năm: 1967 (có mặt) Cùng trú tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

5. Bà Đàng Thị H, sinh năm: 1927 (vắng mặt) Trú tại: thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 10 năm 2021, Hán Chi Y Đi L quen biết và có tình cảm yêu đương với Châu Thị C (sinh ngày 31/12/2006). Sau khi quen biết và được cha mẹ hai bên cho phép yêu nhau thì L và C đã sinh sống với nhau như vợ chồng, L đã nhiều lần quan hệ tình dục với C.

Ngày 06/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp nhận Đơn tố giác của bà Đổng Thị A với nội dung tố cáo Hán Chi Y Đi L có hành vi giao cấu với con gái tên Châu Thị C, nên báo cho Công an xã P làm việc. Qua kiểm tra tra tại nhà bà Đàng Thị H, phát hiện L và C đang ngủ chung với nhau nên Công an xã P đã mời hai người về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra xác định được Hán Chi Y Đi L đã 09 lần thực hiện hành vi giao cấu với Châu Thị C –là người chưa thành niên cụ thể:

Trong tháng 11 năm 2021, Hán Chi Y Đi L và Châu Thị C đã quan hệ tình dục với nhau được 04 lần, tại nhà bà Đổng Thị A (mẹ C) ở thôn H, xã P, huyện N.

Trong tháng 12 năm 2021, Hán Chi Y Đi L và Châu Thị C đã quan hệ tình dục với nhau được 02 lần, tại nhà ông Hán Văn T, bà Tạ Thị C (cha mẹ L) ở thôn T, xã P, huyện N.

Từ tháng 12 năm 2021 đến ngày 06/01/2022, Hán Chi Y Đi L và Châu Thị C đã quan hệ tình dục với nhau được 03 lần, tại nhà bà Đàng Thị H (bà nội L) ở thôn T, xã P, huyện N.

Đến khi bà Đổng Thị A đến đưa C về nhưng C không chịu về, còn Hán Chi Y L thì ngăn cản nên bà A đã trình báo sự việc.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tình dục số 03/TDTE, ngày 07/01/2022 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận: Toàn thân, bộ phân sinh dục: Phát triển bình thường, không thấy tổn thương; Màng trinh: Hình vành khăn, lỗ màng trinh giãn rộng, rách cũ vị trí hướng 3giờ, 5giờ, 7giờ; Xét nghiệm dịch âm đạo: Soi nhuộm tìm không tìm thấy hình dạng tinh trùng trong dịch âm đạo; Siêu âm: Hiện tại siêu âm ổ bụng không thấy bất thường.

Đối với hành vi của ông Châu Văn T, bà Đổng Thị A, ông Hán Văn T1, bà Tạ Thị C là cha mẹ của Hán Chi Y Đi L và Châu Thị C biết việc Hán Chi Y Đi L và Châu Thị C –là người chưa thành niên, có quan hệ tình cảm yêu đương nam nữ với nhau và chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không tổ chức lễ cưới hỏi nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự ông T, bà A, ông T1, bà C về tội Tổ chức tảo hôn.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình

Bản cáo trạng số 23/VKS-HS ngày 27/4/2022, Viện kiểm sát Nhân dân huyện N truy tố bị cáo Hán Chi Y Đi L về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Ý kiến của Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của BLHS để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức thấp hơn mức hình phạt của Kiểm sát viên đưa ra.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của luật sư và không tranh luận gì.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Đồng ý với quan điểm luận tội của đại diệnViện kiểm sát tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Hán Chi Y Đi L khai nhận: Bị cáo có quan hệ tình cảm nam nữ với Châu Thị C -sinh ngày 31/12/2006. Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến ngày 06/01/2022, Bị cáo đã 09 lần thực hiện hành vi giao cấu với Châu Thị C, cụ thể 04 lần tại nhà bà Đổng Thị A, ông Châu Văn T\; 02 lần tại nhà ông Hán Văn T, bà Tạ Thị C và 03 lần tại nhà bà Đàng Thị H\. Tại thời điểm bị xâm hại cháu Châu Thị C mới 15 tuổi 03 ngày (dưới 16 tuổi) phù hợp với lời khai người bị hại, các bản cung, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Vì vậy, Viện kiểm sát huyện N truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Giao cấu với người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe, sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của trẻ em và gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương, do vậy cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nghĩ cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.

Đối với ý kiến của Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống mức thấp hơn mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đồng ý với quan điểm luận tội của đại diệnViện kiểm sát tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xét.

Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo được Cơ quan có thẩm quyền xác nhận nên được miễn nộp toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố: Bị cáo Hán Chi Y Đi L phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

3. Xử phạt: Bị cáo Hán Chi Y Đi L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 06/01/2022.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hán Chi Y Đi L được miễn nộp toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/5/2022). Đối với bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ