- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức N - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2018/HS-ST Ngày: 10- 7- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Thanh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hương;
2. Ông Võ Hồng Châu.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hồng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Đoàn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2018/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Đức N (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1994; tại Tây Ninh; Nơi đăng ký nH khẩu thường trú: Khu phố A, phường B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức T và bà Nguyễn Thị S; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/3/2018 cho đến nay (có mặt).
Người bị hại: Cháu Đặng Gia H, sinh ngày 30-10-2003. Địa chỉ: Ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
Anh Đặng Thanh L, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Xin vắng mặt.
Chị Huỳnh Thị Tố Q, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Có mặt
Bà Trần Thị Mỹ H1, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Xin vắng mặt.
Người có quyền lợi N vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm: 1962; Địa chỉ: Khu phố Ninh Trung, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17-01-2018 bà Trần Thị Mỹ H1 có đơn tố cáo gửi Công an thành phố Tây Ninh về việc cháu ngoại bà tên Đặng Gia H, sinh ngày 30-10-2003, ngụ Ấp Thanh Trung, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị Lê Đức N ngụ Khu phố A, phường B, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh giao cấu vào ngày 13-01-2018 và yêu cầu xử lý hình sự đối với N.
Quá trình điều tra N khai nhận: N và H quen biết và có tình cảm yêu thương nhau từ tháng 10 năm 2017. Ngày 13-01-2018 sau khi chở H đến shop JUNO đổi lại giày, N chở H đi uống bia cùng với mấy người bạn đến 23 giờ thì nghỉ. Do đã uống rượu nên khi N chở về nhà thì H không đồng ý do sợ ngoại la, N mới đề nghị chở H về nhà trọ nghỉ thì H đồng ý. Sau đó, N chở H đến nhà trọ Thanh M thuộc khu phố Ninh Phú, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, N giao cấu với cháu H một lần và nằm ngủ đến sáng thì về.
Lời khai của người bị hại là cháu H (có sự chứng kiến của mẹ ruột là Huỳnh Thị Tố Q): Cháu H xác nhận quen N khoảng tháng 4 năm 2017 và có tình cảm yêu thương nhau từ tháng 10 năm 2017. Ngày 13-01-2018 N và H hẹn nhau đi đổi giày, sau đó N chở H đi uống bia và đến nhà trọ Thanh M, tại đây N và H giao cấu với nhau 01 lần, khi quan hệ đều có sự đồng ý của cháu H.
Tại Kết luận giám định pháp y về tình dục số: 02/2018/TD ngày 17-01-2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận Đặng Gia H màng trinh rách mới vị trí 06 giờ, có 02 vết bầm mới vị trí 3 giờ, 7 giờ tại môi bé, đường kính mỗi vết 01 cm, hiện không chảy máu, không phát hiện có thai. Quá trình điều tra, N thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Vật chứng thu giữ: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Huỳnh Thị Tố Q yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000đồng, gia đình Lê Đức N đã bồi thường xong và có đơn bãi nại không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với N.
Tại bản cáo trạng số 53/QĐ – KSĐT ngày 30-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đã truy tố Lê Đức N về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo Khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lê Đức N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên toà, vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng Khoản 1 Điều 145; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức N từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: đề nghị HĐXX ghi nhận người đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận tiền bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường thêm.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN DỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho người bị hại, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Lê Đức N là người đã thành niên. Ngày 13-01-2018 N đã giao cấu với cháu Đặng Gia H một lần tại nhà trọ Thanh M thuộc khu phố Ninh Phú, phường Ninh Sơn, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ vào giấy chứng sinh, hộ khẩu, các chứng cứ khác thể hiện cháu H sinh ngày 30-10-2003, tính đến thời điểm bị cáo giao cấu cháu H được 14 tuổi 02 tháng 14 ngày.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận Lê Đức N đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại Khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bản thân bị cáo N là người đã thành niên. Bị cáo đã lợi dụng sự non nớt, thiếu hiểu biết của cháu H để thực hiện hành vi giao cấu khi cháu H chưa tròn 16 tuổi.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của cháu H. Cháu H khi bị xâm hại còn ở độ tuổi là trẻ em cho nên còn hạn chế về kinh nghiệm sống, dễ bị rủ rê, dụ dỗ, thiếu sáng suốt trong quyết định, dù sự giao cấu có sự thuận tình của cháu.
Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của cháu H, gây ảnh hưởng xấu cho sự phát triển về tâm sinh lý và thể chất của cháu H mà còn để lại hậu quả xấu cho cháu về tương lai sau này. Nên cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đề nghị áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật là có căn cứ.
[5] Trong quyết định hình phạt có xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp cho người bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh L và bà H1 vắng mặt, thống nhất giao chị Q làm người đại diện hợp pháp cho cháu H. Trong quá trình điều tra gia đình cháu H yêu cầu bị cáo N bồi thường số tiền tổng cộng là 40.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị S mẹ bị cáo đã bồi thường và gia đình cháu H đã nhận đủ số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên ghi nhận. Ghi nhận bà S không yêu cầu bị cáo N trả lại cho bà số tiền 40.000.000 đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo Lê Đức N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Căn cứ Khoản 1 Điều 145; Điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Đức N 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 592 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 40.000.000 đồng cho gia đình cháu H xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ghi nhận bà S không yêu cầu bị cáo N trả lại cho bà số tiền 40.000.000 đồng.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Đức N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo N, cháu H, chị Q, bà S được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H, anh L được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAT; - Công an TP Tây Ninh; - VKSND TP Tây Ninh; - Bị cáo; - THA phạt tù; - THADS; - Đương sự; - Hồ sơ; - Lưu./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Võ Thanh Hùng |