vanban.org

Quyết định 21/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị M,

Hủy bỏ Quyết định số 54/2016/QĐDS-ST ngày 21/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân về việc tuyên bố bà Lê Thị M là người mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "hủy mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị M,
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2021/QĐST-DSThọ Xuân, ngày 29 tháng 4 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến

Thư ký phiên họp: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2021/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2021 về việc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 04/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị M, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn Th, xã X, huyện T1, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn Th, xã X, huyện T1, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là bà Lê Thị M trình bày: bà Lê Thị M và ông Hồ Văn T có quan hệ là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 1992. Qúa trình chung sống vào năm 2006 do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên bà M đi miền Nam làm ăn, sau đó bà vẫn liên lạc và gửi tiền về cho gia đình; Đến khoảng 5 năm gần đây thì vợ chồng mâu thuẫn, nên bà không liên lạc về gia đình nữa. Đến tháng 4/2021 khi bà về địa phương để làm giấy tờ tùy thân thì mới biết vào năm 2016 ông T đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà mất tích. Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã giải quyết tuyên bố bà mất tích theo Quyết định tuyên bố một người mất tích số 54/2016/QĐDS-ST ngày 21/12/2016. Vì vậy, bà làm đơn đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích, để đảm bảo quyền lợi cho bà.

Tại bản tự khai ngày 16/4/2021 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn T trình bày: Vào năm 2016 ông có làm đơn đề nghị Tòa án tuyên bố bà Lê Thị M mất tích, nhưng nay bà M đã trở về địa phương. Vì vậy ông đề nghị Tòa án hủy quyết định tuyên bố bà M mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 27, 370, 371, 372, 390 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự, Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị M, ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố bà Lê Thị M mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên họp người yêu cầu bà Lê Thị M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn T đều vắng mặt, nhưng trước đó có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt, nên căn cứ khoản 2, 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt bà M và ông T.

Về nội dung yêu cầu: Bà Lê Thị M và ông Hồ Văn T có quan hệ là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1992; Qúa trình chung sống, năm 2006 bà M đi vào miền Nam làm ăn, thời gia đầu vẫn liên lạc về với gia đình, tuy nhiên từ năm 2015 không còn liên lạc với gia đình. Vào năm 2016 ông T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà M mất tích. Tại Quyết định số 54/2016/QĐDS-ST ngày 21/12/2016 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã tuyên bố bà Lê Thị M là người mất tích. Đến tháng 4/2021 bà M đã trở về địa phương trình báo và được Công an xã Xuân Hòa xác nhận. Xét, nay bà M yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố bà mất tích là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng Điều 390 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 70 Bộ luật Dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của bà M, hủy bỏ quyết định tuyên bố bà Lê Thị M mất tích.

Về lệ phí: Bà Lê Thị M phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 149, 370, 371, 372, 390 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị M,

Hủy bỏ Quyết định số 54/2016/QĐDS-ST ngày 21/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân về việc tuyên bố bà Lê Thị M là người mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0006410 ngày 08/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Bà Lê Thị M đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ