- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Vĩnh K"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Vĩnh K; tên gọi khác: không; sinh ngày: 12/8/1991;
- Căn cứ chính? Nghị định số 111/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| THÀNH PHỐ B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Số: 21/2019/QĐ-TA | BH, ngày 13 tháng 03 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH ĐỒNG NAI
* Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Chi
- Thư ký phiên họp: Ông Phan Văn Tiến.
Ngày 13 tháng 03 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 19/2019/QĐ-TA ngày 05 tháng 03 năm 2019, đối với:
Họ và tên: Trần Vĩnh K; Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không
Sinh ngày: 12/8/1991, tại Đồng Nai
CMND số: 272106587; ngày cấp:
; nơi cấp: CA Đồng Nai
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 8/12.
Nguyên quán:
Hộ khẩu thường trú: 2/9, tổ 13, KP2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: 2/9, tổ 13, KP2, phường , thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Không.
Nhân thân: năm 2007 đưa vào trường giáo dưỡng số 04 của Chủ tịch UBND thành phố B; Năm 2009- 2011 bị Tòa án nhân dân thành phố B xét xử về tội Cố ý gây thương tích.
Tiền án: năm 2017-2018 bị Tòa án nhân dân thành phố B xét xử tội Hủy hoại tài sản 01 năm tù.
Tiền sự: Vào ngày 02/11/2018 Trần Vĩnh K có hành vi vi phạm sử dụng trái phép chất ma túy Công an phường L, thành phố B lập hồ sơ vi phạm hành chính và căn cứ vào Nghị định 111/2013/NĐ-CP của Chính phủ đề nghị Chủ tịch UBND phường L để quản lý giáo dục tại địa phương tại Quyết định số 552/QĐ-UBND ngày 12/11/2018 của Chủ tịch UBND phường L, về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Trần Vĩnh K là 03 tháng, kể từ ngày 12/11/2018 đến ngày 12/2/2019.
Con ông Trần Nguyên T và bà Trần Kim L ( đã chết)
Ông K vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Chuyên viên phụ trách công tác phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm thành phố.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Ngày 12/11/2018 Trần Vinh K đã bị Chủ tịch UBND phường L thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 552/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ và Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ, trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 12/11/2018 đến ngày 12/2/2019; trong quá trình chấp hành quyết định trên, thì vào lúc 13 giờ 40 phút ngày 28/12/2018 K tiếp tục hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị phát hiện, Công an phường L mời K lên làm việc thử bằng que thử ma túy nhanh kết quả dương tính với ma túy đá, đồng thời K thừa nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy theo biên bản vi phạm hành chính ngày 28/12/2018 do Công an phường L lập.
Ngày 28/12/2018 Chủ tịch UBND phường L ban hành Quyết định số 579/QĐ-UBND về việc chấm dứt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn đối với Trần Vĩnh K; Thông báo số 105 ngày 28/12/2018 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đồng thời ban hành Quyết định số 88/QĐ-UBND ngày 03/01/2019 về việc “Giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với K.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B: Trần Vĩnh K nghiện ma túy đá và đã bị xử phạt hành chính hình thức giáo dục tại địa phương nhưng vẫn không cai nghiện được. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B, xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn là 24 tháng tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, địa chỉ số 70, ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Việc thụ lý và giải quyết vụ việc đúng thẩm quyền, hồ sơ đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm cho việc xem xét, phán quyết của Tòa án.
XÉT THẤY
Trần Vĩnh K là người nghiện ma túy đá, đã trên 18 tuổi và mặc dù đã bị xử phạt hành chính nhưng vẫn không tự cai nghiện được. Căn cứ các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ, đối chiếu với qui định của pháp luật, nhận thấy K thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với K lập theo đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, do đó, cần thiết đưa K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để có thời gian nhận thức được hành vi sai phạm của mình, có hướng cải tạo, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng để cảnh báo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Trần Vĩnh K; tên gọi khác: không; sinh ngày: 12/8/1991;
Hộ khẩu thường trú: 2/9, tổ 13, KP2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: 2/9, tổ 13, KP2, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Vào Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai, địa chỉ tại số 70, ấp B, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp, thời hạn khiếu nại 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được niêm yết theo qui định pháp luật. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an thành phố B phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố B thi hành quyết định này theo luật định.
| Nơi nhận: - VKS-ND TP B. - Công an TP B. - Phòng LĐTB-XH TP B. - Phòng Tư pháp TP B. - UBND phường (xã). - Người bị áp dụng. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Lan Chi |