vanban.org

Quyết định 21/2019/QĐ-PT — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 25/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 124/2018/QĐST-DS ngày 14/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện NT.

Về án phí: Anh NTH phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm và được khấu trừ vào số tiện tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000068 ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NT. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 124/2018/QĐST-DS ngày 14/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện NT.
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2019/QĐ-PTĐồng Nai, ngày 25 tháng 3 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Vũ Thị Thu

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Công Sự

Ông Ngô Thanh Sỹ

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 124/2018/QĐST-DS ngày 14/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện NT;

Tòa án nhân dân huyện NT đã căn cứ vào điểm 9, khoản 1, Điều 217 và điểm b khoản 1, Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc“Tranh chấp di sản thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa:

- Nguyên đơn: Anh NTH, sinh năm 1984

Địa chỉ: Khu phố 3, Thị trấn CG, H. CG, T. LA.

Người đại diện hợp pháp của ông Hòa: Anh NSD, sinh năm 1996 (Theo văn bản ủy quyền ngày 25/9/2018)

Địa chỉ: E 8/3 đường TT, Thị trấn TT, H. BC, Tp. HCM

- Bị đơn: Bà NTP sinh năm 1944.

Địa chỉ: Số 618, ấp 2, xã PK, H. NT, T. Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị NTTT, sinh năm 1984.

2. Chị NTTB, sinh năm 1976

Cùng địa chỉ: Số 618, ấp 2, xã PK, H. NT, T. Đồng Nai.

3. Ủy ban nhân dân huyện NT

Người đại diện hợp pháp: Ông LTM - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện NT

Ngày 24/12/2018 nguyên đơn anh NTH kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, lý do: Đã có đủ căn cứ để xác định anh là một trong những người thừa kế hợp pháp của ông NTH1, nên anh có quyền khởi kiện chia thừa kế tài sản do ông H1 chết để lại. Tòa án cấp sơ thẩm Đình chỉ giải quyết vụ án với lý do anh chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của anh.

XÉT THẤY:

- Về thủ tục kháng cáo: Kháng cáo của anh H trong hạn luật định, đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục chung.

- Về nội dung kháng cáo:

Anh NTH cho rằng anh là con ngoài giá thú của ông NTH1 và bà TTHT. Tài liệu anh Hòa cung cấp là bản sao giấy khai sinh số 410 ngày 29/11/1984 của anh Hòa, trong đó mục người cha có tên NTH1, sinh năm 1941 (bút lục 09) và hình chân dung của anh H, ông H1 (bút lục 44). Tuy nhiên, bà P không thừa nhận ông H1 trong giấy khai sinh của anh H và ông H1 chồng bà là một người. Các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ gồm: Bản sao CMND của ông H1 (bút lục 30); giấy chứng tử của ông H1 (bút lục 31); giấy khai sinh của chị NTTB con gái ông H1 với bà P (bút lục 32) và Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương (bút lục 213, 214) đều thể hiện ông NTH1 (chồng của bà NTP) sinh năm 1935. Ngoài ra, không còn chứng cứ nào khác xác định ông NTH1, sinh năm 1941 trong giấy khai sinh của anh Hòa với ông NTH1, sinh năm 1935 (chồng bà P) là một người.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có văn bản yêu cầu hỗ trợ để làm thủ tục trưng cầu giám định xác định quan hệ huyết thống giữa anh H và ông NTH1 (chồng của bà NTP), nhưng Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an trả lời là không thể thực hiện được do anh H không cung cấp được mẫu giám định. Chính anh H cũng xác định không thể thu thập được mẫu ADN của những người nam giới trong họ nội của ông NTH1 (chồng bà P) để giám định. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã hướng dẫn cho anh H thực hiện thủ tục xác định cha cho con, nhưng anh H không thực hiện. Do đó, cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án do anh H chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là có căn cứ. Anh NTH kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình, nên không có cơ sở chấp nhận.

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 124/2018/QĐST-DS ngày 14/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện NT.

2. Về án phí: Anh NTH phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm và được khấu trừ vào số tiện tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000068 ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NT.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định.

Cỡ chữ