- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị L và anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ngô Thị L, cho chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/HNGĐ - ST Ngày: 19/7/2019 V/v Tranh chấp Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1: Ông Đinh Quốc Việt
2: Bà Ngô Thị Hồng Vân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa; Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2019/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXX
- HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1978 (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh B
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T(Hoàng Cao T), sinh năm 1975 (Vắng mặt)
Nơi cư trú cuối cùng: Xóm AD, xã KM, huyện DH, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Ngô Thị L trình bày như sau:
Chị kết hôn với anh Hoàng Văn T(Hoàng Cao T) vào năm 1999, có tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện V, tỉnh B trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại tại xóm AD, xã KM, huyện ĐH, tỉnh TN. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Tnghiện ma túy, chị và gia đình khuyên can nhiều lần nhưng không được. Khoảng tháng 02/2002 anh Tcó nói với gia đình là vào miền Nam làm ăn, từ đó anh TThái bặt vô âm tín, không thông tin liên lạc gì về với gia đình, không ai biết anh Thiện đang ở đâu còn sống hay đã chết. Do vây chị đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích, ngày 16/4/2019, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã có Quyết định số 01/2019/QĐST - VDS về việc tuyên bố anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) mất tích.
Chị xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có có 01 con chung là Hoàng Thanh B, sinh ngày 30/5/2000, hiện con chung đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Chị Loan xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Loan xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã tiến hành tống đạt bằng hình thức niêm yết công khai đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn (anh T) theo quy định. Tuy nhiên, anh T vẫn biệt tích, không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của anh T và vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án cũng đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T), được người thân thích và chính quyền địa phương xác định từ ngày bỏ đi biệt tích (năm 2002) cho đến nay anh T chưa trở về địa phương và cũng không ai biết tin tức gì của anh Thiện đang làm gì ở đâu, còn sống hay đã chết.
[3] Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết vụ án.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Áp dụng Điều 21, 28, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ngô Thị L, cho chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn T(Hoàng Cao T).
+ Về con chung: Con chung là cháu Hoàng Thanh Bình, sinh ngày 30/5/2000 hiện đã thành niên nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không có đề nghị nên không xem xét giải quyết.
+ Án phí: Chị Ngô Thị L phải nộp 300.000đ tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc yêu cầu ly hôn giữa nguyên đơn là chị Ngô Thị L, nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh B và bị đơn là anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T), nơi cư trú cuối cùng: Xóm AD, xã KM, huyện ĐH, tỉnh TN. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Thủ tục tố tụng: Anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) đã bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ tuyên bố mất tích tại Quyết định số 01/2019/QĐST - VDS ngày 16/4/2019. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã tiến hành tống đạt bằng hình thức niên yết công khai tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án tại nơi cư trú, trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú cuối cùng của anh Tvà tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ theo quy định tại Điều 174, Điều 175, Điều 179, Điều 196 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, suốt quá trình giải quyết vụ án anh Tkhông có mặt, không có tin tức gì, vụ án không tiến hành hòa giải được phải đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Ngô Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị L và anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) kết hôn với nhau năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện V, tỉnh B trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại xã KM, huyện ĐH, tỉnh TN. Tới năm 2002 anh Tđã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương, đến nay không có tin tức gì, hiện anh T đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết không ai biết. Tháng 10/2018 chị L đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) mất tích. Ngày 16/4/2019, Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã có Quyết định số 01/2019/QĐST - VDS về việc tuyên bố anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) mất tích.
Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng cần chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của chị Ngô Thị L, cho chị Ngô Thị L được ly hôn với Hoàng Văn T (Hoàng Cao T) như vậy là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có có 01 con chung là Hoàng Thanh B, sinh ngày 30/5/2000, hiện con chung đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và khả năng lao động nên HĐXX không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không có yêu cầu. Vì vậy HĐXX không xem xét, giải quyết. Các bên đương sự được quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chị Ngô Thị L phải chịu 300,000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HN&GĐ sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 174, 175, 179, 196, 220, 227, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ngô Thị L, cho chị Ngô Thị L được ly hôn với anh Hoàng Văn T (Hoàng Cao T).
2. Về con chung: Con chung là Hoàng Thanh B, sinh ngày 30/5/2000, hiện đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự và khả năng lao động, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
4. Án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu 300,000đ (Ba trăm nghì đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300,000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0016300 ngày 16/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Án sử công khai vắng mặt chị Loan, anh T. Báo cho chị Loan, anh Tbiết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Chi cục THADS huyện Đồng Hỷ; - UBND xã Minh Lãng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - UBND xã KM, huyện Đồng Hỷ; - Lưu: HS, bộ phận HNGĐ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thủy |