vanban.org

Quyết định 20/QĐ-TA

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 23/11/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh H.

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị; Phòn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh H.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/QĐ - TAPhúc Yên, ngày 23 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lưu Thị Thúy.

2. Thư ký phiên họp: Ông Đường Thái Sơn

Ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 21/QĐ - TA ngày 14 tháng 11 năm 2018 và Thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 04/2018/TB- TLHS ngày 20 tháng 11 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Lương Minh H

Giới tính: Nam

Sinh ngày 04 tháng 12 năm 1995.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hoá: 09/12

Nơi đăng ký HKTT: Tổ 6, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.

Chỗ ở hiện nay: Tổ 7, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Con ông Lương Quốc A và bà Hoàng Thị X.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Đăng Cư– Phó phòng Lao động Thương bình và Xã hội thành phố Phúc Yên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên họp: Bà Đinh Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lương Minh H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015. Theo giấy chứng nhận số: 07/GCN- UBND ngày 06/5/2018 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường X, thành phố P tỉnh Vĩnh Phúc thì H đã chấp hành xong quyết định giáo dục tại phường. Trong thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại phường Lương Minh H đã được Công an phường cùng các đoàn thể, tổ dân phố và gia đình giúp đỡ để cai nghiện nhưng H chưa thực sự có ý thức và quyết tâm cai nghiện. Tại bản tường trình ngày 25/10/2018, Lương Minh H thừa nhận vào ngày 21 tháng 10 năm 2018, H sử dụng trái phép chất ma túy là hêrôin bằng hình thức hít vào cơ thể. Theo kết quả xét nghiệm tại Trung tâm y tế thành phố P ngày 25/10/2018 chất ma túy trong cơ thể của H là dương tính.

Đại diện phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố P đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh H với thời hạn là 24 (Hai mươi tư) tháng tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có ý kiến tại phiên họp khẳng định việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố P lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục và đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Viện kiểm sát đề nghị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh H với thời hạn từ 15 đến 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp và trên cơ sở ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, của Kiểm sát viên thấy rằng:

Tài liệu có trong hồ sơ đề nghị được thu thập đầy đủ, đảm bảo về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013 và Nghị định số 136/2016/NĐ- CP ngày 09/9/2016.

Đối với Lương Minh H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2015, đã bị UBND phường X áp dụng hình thức giáo dục tại phường. Tuy nhiên sau khi thực hiện biện pháp giáo dục tại phường Lương Minh H không tiến bộ, cải tạo thành con người có ích cho gia đình và xã hội, mà lại tiếp tục sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Minh H đã vi phạm khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Với hành vi vi phạm nêu trên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh H có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên đối tượng Lương Minh H chưa có tiền án, tiền sử, chưa từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nên cần xem xét thời hạn đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân từ 15 tháng đến 18 tháng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Minh H.

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị; người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố P phối hợp với Công an thành phố P có trách nhiệm làm thủ tục đưa người phải chấp hành quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

Cỡ chữ