- Tranh chấp gì? "cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Quang L (Tên gọi khác: T).
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/QĐ-TA | Phú Mỹ, ngày 28 tháng 4 năm 2021. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lê Bá Khuyến.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/2021/QĐ-TA, ngày 20 tháng 4 năm 2021 đối với:
Họ và tên: Trương Quang L (Tên gọi khác: T). Giới tính: Nam.
Sinh ngày 21 tháng 5 năm 1982.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 11/12.
Nguyên quán: Tỉnh Quảng Trị.
Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Long An.
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Làm thuê.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định số 69/2018/QĐ-TA, ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Quang L (T) thời gian là 12 (mười hai) tháng. Trương Quang L (T) đã chấp hành xong và tự ra trại ngày 28/7/2019.
Con ông Trương Quang L1 và bà Phạm Thị H.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lê Văn Quỳnh - Chức vụ: Chuyên viên phụ trách công tác phòng, chống tệ nạn xã hội thuộc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Văn bản ủy quyền số 746/PLĐTBVXH, ngày 31 tháng 12 năm 2020).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Phạm Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện X ban hành văn bản số 176/LĐTBXH, ngày 15/4/2021 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với Trương Quang L (T) về hành vi vi phạm như sau:
* Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 03/3/2021, Trương Quang L khai nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2018, gần đây nhất vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/3/2021 có sử dụng ma túy cùng với bạn tại ấp B, xã T nên đến 22 giờ 00 phút ngày 03/3/2021 Công an xã T phối hợp với Trạm Y Tế xã T, tiến hành xét nghiệm ma túy đối với L. Kết quả, L dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine (tên gọi khác: Ma túy đá). Cùng ngày, Công an xã T đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định người nghiện ma túy của Trạm Y tế xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, ngày 03/3/2021 xác định L có nghiện ma túy, loại Methamphetamine.
* Tại phiên họp:
- Đại diện cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Sau khi có văn bản đề nghị của Công an xã T, Quyết định của Ủy ban nhân dân xã T và Thông báo kết quả kiểm tra tính pháp lý hồ sơ đề nghị của Phòng Tư pháp huyện X. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện X thấy rằng: Trương Quang L (T) có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo kết quả xét nghiệm thì L nghiện ma túy, loại Methamphetamine và bị Công an xã T lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trương Quang L (T) được xác định là người không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L một thời gian, giúp L trở thành người có ích cho xã hội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 13 đến 15 tháng.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Trương Quang L (T) là đầy đủ và đúng quy định. Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L là cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa L vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện X.
- Người bị đề nghị trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị:
Trương Quang L (T) thừa nhận sử dụng ma túy nhiều lần, thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2018 và lần sử dụng gần nhất là ngày 03/3/2021 cùng với bạn tại ấp B, xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, ma túy sử dụng là loại Methamphetamine; L cũng thừa nhận hiện nay không sinh sống tại một địa chỉ cố định và đề nghị Tòa án xem xét giảm thời gian chấp hành.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình bày của cơ quan đề nghị; Người bị đề nghị tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
- Thời hiệu giải quyết: Ngày 03/3/2021, Trương Quang L (T) bị Công an xã T, huyện X lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/4/2021, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với L là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ và Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
- Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo quy định tại Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định Trương Quang L (T) là người nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành xác minh và thực hiện đầy đủ, đúng trình tự quy định tại các Điều 8, 9, 10, 11, 12, 13 và 14 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Điều 103, 104 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính.
2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Trương Quang L (T) thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của Cơ quan đề nghị. Xác định, ngày 03/3/2021 L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cùng ngày 03/3/2021 Công an xã T lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi trên. Căn cứ Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 03/3/2021 của Trạm Y tế xã T, huyện X, kết luận Trương Quang L (T) có nghiện ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của L đã vi phạm Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính và khoản 2 Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Mục 3, khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Ngày 29/11/2018, Trương Quang L (T) đã bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian là 12 (mười hai) tháng (Quyết định số 69/2018/QĐ-TA) đã chấp hành xong và tự ra trại ngày 28/7/2019, nên căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính, lần vi phạm này được xác định là tái phạm.
- Tình tiết giảm nhẹ: Trương Quang L (T) đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:
Trương Quang L (T) biết rõ ma túy, loại Methamphetamine là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, L cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.
5. Ý kiến của người tham gia phiên họp:
- Cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Quang L (T).
- Người bị đề nghị: Đồng ý với ý kiến của Cơ quan đề nghị.
6. Lý do, căn cứ áp dụng:
- Lý do áp dụng: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện X đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Quang L (T) là cần thiết để quản lý cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý.
- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 10, 95, 96, 103, 104, 105 và 110 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính; Các Điều 2, 3, 20, 22, 23, 30, 31 và 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Các Điều 3 và 4 Nghị định số 221/NĐ-CP, ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Mục 3, khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trương Quang L (Tên gọi khác: T).
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định;
Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Trưởng Công an huyện X; - Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện X; - VKSND huyện X; - UBND xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Long An; - UBND và Công an xã T, huyện X; - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Cơ sở Tư vấn và Điều trị nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng dấu) Lê Bá Khuyến |