- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Lương Trần Khoa N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/QĐ - TA | Châu Thành, ngày 25 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH BẾN TRE
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trung.
2. Thư ký phiên họp: Ông Đoàn Ngọc Sơn.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 18/QĐ-TA ngày 12 tháng 6 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Lương Trần Khoa N, Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 25/9/1997;
Dân tộc: kinh;
Tôn giáo: không;
Trình độ học vấn 8/12
Nguyên quán: tỉnh Bến Tre;
ĐKTT: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre;
Nơi ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Nghề nghiệp: không;
Tiền án: không;
Tiền sự:
+ Tại Quyết định số 000029/QĐ-XPHC ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Công an huyện Châu Thành đã xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
+ Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số: 53/QĐ-UBND ngày 19/3/2020 của Ủy ban nhân dân xã B.
Con ông: Lương Minh T và bà: Trần Thị Phương K.
(Vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Tấn Tín – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Bà La Thị Thúy Vi - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 09/6/2020, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre có văn bản số 315/LĐ – TBXH đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với do có Lương Trần Khoa N hành vi sử dụng chất ma túy, cụ thể như sau:
Lần 1, vào ngày 20/11/2019, N sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Hảo và Trường tại nhà của H thuộc xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã lập biên bản vi phạm hành chính số 00007/BB-VPHC ngày 21/11/2019 và đã bị Công an huyện Châu Thành ra quyết định xử phạt số 00029/QĐ-XPVPHC ngày 22 tháng 11 năm 2019 xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy.
Lần 2, vào ngày 03/3/2020, N tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà thuộc ấp Thạnh Hựu, xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Công an xã B đã lập biên bản Vi phạm hành chính số 03961/BB-VPHC ngày 06/3/2020. Ngày 19/3/2020, UBND xã B đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 53/QĐ-UBND, thời gian áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày 19/3/2020.
Lần 3, vào ngày 05/5/2020, N sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Hoàng tại nhà của Hoàng thuộc phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, Công an xã B, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã lập biên bản Vi phạm hành chính số 03612/BB-VPHC ngày 08/5/2020 đối với N. Trạm y tế xã B đã tiến hành kiểm tra ma túy đối với N và kết quả là dương tính (có sử dụng) với ma túy Amphetamine (ATS). Qua làm việc, N thừa nhận đã nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, không từ bỏ được ma túy nên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Châu Thành đã lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Châu Thành có ý kiến: Do Lương Trần Khoa N nghiện ma túy Amphetamine (ATS) và sử dụng ma túy, bị Công an huyện Châu Thành xử phạt hành chính và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không tiến bộ và tiếp tục sử dụng ma túy, các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự theo quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đối với Lương Trần Khoa N với thời hạn 12 tháng.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: hồ sơ đã được lập đúng theo trình trự thủ tục theo luật định. Thẩm phán, thư ký giải quyết vụ việc đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Trần Khoa N theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Châu Thành. Về thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Châu Thành là phù hợp.
XÉT THẤY:
Căn cứ biên bản vi phạm hành chính số 00007/BB-VPHC ngày 21/11/2019 của Công an huyện C, Biên bản vi phạm hành chính số 03961/BB-VPHC ngày 06/3/2020 và 03612/BB-VPHC ngày 08/5/2020 của Công an xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre thể hiện: Lương Trần Khoa N đã có hành vi sử dụng ma túy trái phép vào các ngày 21/11/2019, ngày 03/3/2020 tại xã B và ngày 05/5/2020 tại phường L, Tp N, có chữ ký xác nhận của N.
Căn cứ vào các lời khai của Lương Trần Khoa N, phiếu trả lời kết quả về việc xác định trình trạng nghiện ma túy của Trạm y tế xã B thuộc Trung tâm y tế huyện C, các biên bản xác minh vi phạm hành chính có trong hồ sơ đã thể hiện, N là đối tượng nghiện ma túy, sử dụng ma túy trái phép nhiều lần, đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quyết định số 53/QĐ-UBND, thời gian áp dụng là 03 tháng, kể từ ngày 19/3/2020. Tuy nhiên, vào ngày 08/5/2020, thời điểm N còn đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn của UBND xã B, Công an xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre đã lập biên bản Vi phạm hành chính số 03612/BB-VPHC đối với N do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Với những căn cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Trần Khoa N đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định. Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C là có cơ sở, đúng đối tượng và còn trong thời hiệu xử lý.
Xét thấy, Lương Trần Khoa N là người đã thành niên và biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. N đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường nhưng vẫn tiếp tục sử dụng và nghiện chất ma túy. Hành vi của N đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn N sử dụng ma túy. Do đó, việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Trần Khoa N là cần thiết mới giúp N từ bỏ việc sử dụng ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về thời gian áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện C là 12 tháng, xét thấy là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Lương Trần Khoa N; sinh ngày 25/9/1997.
Nghề nghiệp: Không.
ĐKTT: ấp ĐKTT: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre;
Nơi ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Con ông: Lương Minh T và bà: Trần Thị Phương K.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Lương Trần Khoa N được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Bến Tre được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định:
Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre.
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TA tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện Châu Thành (1b); - Phòng LĐ-TB và XH huyện Châu Thành (1b); - Công an huyện Châu Thành (1b); - UBND xã Tam Phước (1b); - Công an xã Tam Phước (1b); - Cơ sở Cai nghiện ma túy thuộc Sở LĐTBXH tỉnh Bến Tre (1b); - Người bị đề nghị (1b); - Lưu VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN Lê Thị Minh Trung |