vanban.org

Quyết định 20/QĐ-TA

TAND huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuyên án 25/02/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Văn L; sinh năm 2003; Nơi cư trú: ấp AB, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Anh Bùi Văn L được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Văn L; sinh năm 2003; Nơi cư trú: ấp AB, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/QĐ-TABa Tri, ngày 25 tháng 02 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI - TỈNH BẾN TRE

Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Bà Trần Thị Huyền Nhung

Thư ký phiên họp: Ông Trương Hữu Lộc

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 25/2025/ADBPXLHC ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định mở phiên họp số: 25/QĐ-TA-XLVPHC ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với:

Họ và tên: Bùi Văn L, sinh năm 2003. Giới tính: Nam.

Số CCCD/định danh cá nhân: ; Ngày cấp: ; Nơi cấp: Cục Cảnh Sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12.

Nguyên quán: Xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Nơi cư trú: ấp AB, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 24/7/2024, Bùi Văn L bị Trưởng Công an xã A, huyện B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC (đã nộp phạt).

Con ông Bùi Văn S và bà Lâm Thị P.

Anh Bùi Văn L có mặt.

Có sự tham gia của:

- Người đề nghị: Ông Bùi Tuấn An – Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Văn Bốn – Phó Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri: Bà Nguyễn Kim Chúc - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Ngày 18/02/2025, Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri có văn bản số 30/PLĐTBXH - TNXH đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn L vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau: Bùi Văn L là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định. Ngày 24/7/2024, anh L bị Trưởng Công an xã A, huyện B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 24/7/2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A ra Quyết định số 142/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đối với Bùi Văn L, thời hạn 01 năm, kể từ ngày 24/7/2024. Ngày 24/12/2024, Bùi Văn L bị Công an xã A mời làm việc và tiến hành xét nghiệm, kết quả dương tính với ma túy. Vụ việc được Công an xã A lập biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 24/12/2024. Ngày 30/12/2024, Trạm y tế xã A có phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện đối với Bùi Văn L là nghiện ma túy, dạng Methamphetamine.

Tại phiên họp:

- Đại diện người đề nghị ý kiến: Vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre đóng tại ấp Tân An, xã Tân Xuân, huyện Ba Tri đối với Bùi Văn L với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Anh Bùi Văn L thừa nhận có nghiện ma túy và đồng ý đi cai nghiện ma túy bắt buộc theo đề nghị của Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và xã hội huyện Ba Tri.

- Kiểm sát viên tham gia phiên họp ý kiến: Hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự thủ tục luật định. Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán đã tiến hành đúng trình tự thủ tục. Qua các tài liệu chứng cứ thể hiện, Bùi Văn L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân xã A. Anh L nhận thức được tác hại của việc sử dụng ma túy nhưng vẫn nghiện ma túy và không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nên việc đưa anh L cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

XÉT THẤY:

Căn cứ phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 24/12/2024, các bản tường trình của Bùi Văn L, biên bản vi phạm hành chính số 02/BB-VPHC ngày 24/12/2024 của Công an xã A về phòng chống tệ nạn xã hội, biên bản làm việc ngày 24/12/2024 và ngày 02/01/2025 của Công an xã A, phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 30/12/2024 của Trạm y tế xã A, biên bản vi phạm số 02/BB-VPHC ngày 10/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã A về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế có đủ cơ sở xác định Bùi Văn L có sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy, dạng Methamphetamine.

Ngày 24/7/2024, Bùi Văn L đã bị xử phạt vi phạm hành chính do hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A ra Quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 24/7/2024 áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy thời hạn 01 năm kể từ ngày 24/7/2024. Tuy nhiên, đang trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, Bùi Văn L lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được xác định nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện với Ủy ban nhân dân xã A, huyện B.

Với những căn cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn L đã được Công an xã A, Ủy ban nhân dân xã A, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri lập đúng theo trình tự pháp luật quy định. Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của Trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Văn L là có cơ sở và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy, Điều 95, khoản 1 Điều 96 và điểm a khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được Tòa án chấp nhận.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bùi Văn L không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính quy định tại các Điều 9, 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Bùi Văn L là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh L đã xâm phạm đến chủ trương, chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư và làm cho tình trạng nghiện của anh L ngày càng trầm trọng. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh L là cần thiết và cần áp dụng mức thời gian cai nghiện tương xứng với tình trạng nghiện ma túy của anh L nhằm giúp anh L từ bỏ việc sử dụng ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Bùi Văn L; sinh năm 2003; Nơi cư trú: ấp AB, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Con ông Bùi Văn S và bà Lâm Thị P.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Anh Bùi Văn L được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri được quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tri phối hợp với Công an xã A thi hành quyết định này.

Cỡ chữ