vanban.org

Quyết định 20/2025/QĐ-TA

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 24/01/2025 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quang T.

Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quang T là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày 08/01/2025. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Quang T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2025/QĐ-TAGiồng Trôm, ngày 24 tháng 01 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

Với thành phần phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Phạm Minh Thơ

2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Kiến Hòa

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 08/QĐ-TA ngày 17 tháng 01 năm 2025, đối với:

Người bị đề nghị: Trần Quang T, sinh ngày 08/10/1988.

Tên gọi khác: Không.

CCCD số: 083088007xxx, ngày cấp: 20/12/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam.

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Trình độ văn hóa: 11/12.

Nghề nghiệp: làm vườn.

Quê quán: xã N, huyện G, tỉnh B.

Nơi thường trú: ấp H, xã N, huyện G, tỉnh B.

Tiền sự: 01

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 366/QĐ-XPVPHC ngày 09/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).

Con ông Trần Thanh P và bà Nguyễn Thị Đ.

Tại phiên họp, anh Trần Quang T có mặt.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Võ Văn Niêm - Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Đại diện theo ủy quyền của ông Võ Văn Niêm: Ông Phạm Quốc Toàn – Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (Theo Giấy ủy quyền số 50/UQ-LĐTBXH ngày 20/01/2025 của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp: Bà Võ Thị Minh Trang - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu thu thập có trong hồ sơ và tại phiên họp thể hiện anh Trần Quang T là người đủ 18 tuổi trở lên; có nơi cư trú ổn định tại ấp H, xã N, huyện G, tỉnh B; đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

Anh T là đã bị xử phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 366/QĐ-XPHC ngày 09/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày 11/12/2024 theo Quyết định số 368/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, anh T đã nhận quyết định này.

Đến ngày 24/12/2024, anh T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Giấy đề nghị số 06/GĐN-CAX ngày 25/12/2024 gửi Phòng khám đa khoa khu vực Tân Hào đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 30/12/2024 của Phòng khám đa khoa khu vực Tân Hào đã kết luận anh T có nghiện ma tuý, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Công an xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã ban hành Thông báo số 117/TB-CAX ngày 30/12/2024 thông báo trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận Thông báo này, anh T phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, ngày 30/12/2024 anh T đã nhận được Thông báo. Quá thời hạn theo Thông báo trên, anh T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định nên ngày 08/01/2025, Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế số 01/BB-VPHC.

Do đó, Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã ban hành Thông báo số 10/TB-UBND ngày 08/01/2025 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T và ban hành Đề nghị số 19/ĐN-CAX ngày 08/01/2025 đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 41/ĐN-CNBB ngày 15/01/2025 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T với thời hạn là 12 (mười hai) tháng.

Tại phiên họp:

Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T với thời hạn là 12 (mười hai) tháng.

Người bị đề nghị là anh T thừa nhận đã sử dụng ma túy vào ngày 04/12/2024, Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến tre ra Quyết định xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với anh T với số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng theo Quyết định số 366/QĐ-XPVPHC ngày 09/12/2024, anh Tính đã nộp phạt. Đến ngày 24/12/2024, anh T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Anh T đồng ý với mức đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh thời hạn là 12 (mười hai) tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên họp phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại các Điều 9, 10, 12, 18 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Về nội dung: Căn cứ các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020); Điều 23 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp, thấy rằng đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đối với anh T là có cơ sở, việc đề nghị thời hạn cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng đối với anh T là phù hợp. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre chấp nhận đề nghị của Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T với thời hạn là 12 (mười hai) tháng.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên họp; ý kiến, kết quả tranh luận, phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thẩm quyền giải quyết:

Ngày 15/01/2025, Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 41/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quang T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020); khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Căn cứ vào Biên bản vi phạm số 01/BB-VPHC ngày 08/01/2025 về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế của Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre thì anh T đã có hành vi vi phạm không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Tính đến ngày Tòa án thụ lý hồ sơ và mở phiên họp, vụ việc còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung 2020).

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, khoản 3 Điều 3 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về nội dung đề nghị:

Anh T là người đủ 18 tuổi trở lên; có nơi cư trú ổn định tại ấp H, xã N, huyện G, tỉnh B; đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị xử phạt 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 366/QĐ-XPVPHC ngày 09/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đang bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày 11/12/2024 theo Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 11/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, trong thời gian quản lý trên, anh T vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 24/12/2024. Theo Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 30/12/2024 của Phòng khám đa khoa khu vực Tân Hào đã kết luận anh T có nghiện ma tuý, tên loại ma túy sử dụng: Ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Công an xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã ban hành Thông báo số 117/TB-CAX ngày 30/12/2024 thông báo trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận Thông báo này, anh T phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, nhưng hết thời hạn này anh T vẫn không thực hiện. Do đó, Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã ban hành Thông báo số 10/TB-UBND ngày 08/01/2025 lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Công an xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã ban hành Đề nghị số 19/ĐN-CAX ngày 08/01/2025 đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T. Theo bản xác nhận ngày 08/01/2025, bà Nguyễn Thị Đ là mẹ ruột của anh T không đồng ý quản lý anh T trong thời gian làm thủ tục, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Ủy ban nhân dân xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Quyết định số 09/QĐ-QLNN ngày 08/01/2025 giao anh T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre quản lý. Trưởng Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre ban hành Đề nghị số 41/ĐN-CNBB ngày 15/01/2025 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T với thời hạn là 12 (mười hai) tháng.

Như vậy, anh T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Anh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng anh vẫn thực hiện. Hành vi của anh T không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của anh, ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của gia đình, mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do vậy, việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Tính là cần thiết, nhằm giúp anh T cai nghiện để sớm trở thành người khỏe mạnh, sống tốt cho bản thân, có ích cho gia đình và xã hội.

Do đó, đề nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng:

Anh T có tình tiết giảm nhẹ là đã tự nguyện khai báo theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Anh T không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Tình tiết giảm nhẹ trên sẽ được xem xét khi quyết định về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng. Với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tình tiết giảm nhẹ đã phân tích ở trên, xét thấy thời gian cai nghiện bắt buộc đối với anh T là 12 (mười hai) tháng mà Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 6; Điều 9; Điều 10; Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

Căn cứ Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quang T.

2. Thời hạn chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Quang T là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày 08/01/2025.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Thời hạn khiếu nại của anh Trần Quang T là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thời hạn kiến nghị của Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định

Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành Quyết định này. * Nơi nhận:

Cỡ chữ