- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Phạm T, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1994, nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu phố L, thị trấn L1, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Căn cứ chính? Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/2023/QĐ-TA | Tánh Linh, ngày 25 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:
Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Yến.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hồng Ngọc Tú - Thư ký tòa án.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” theo Quyết định mở phiên họp số 22/2023/QĐ –TA, ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T, đối với:
Họ và tên: Phạm T, sinh ngày 16/5/1994.
Căn cước công dân số: 060094001410; ngày cấp: ; nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH;
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 06/12.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố L, thị trấn L1, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: nông.
Tiền án: không.
Tiền sự: ngày 26/6/2022, bị UBND thị trấn L1 áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép theo Quyết định số 104/QĐ-UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Con ông Phạm Tvà bà Phạm Thị B.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Ngọc Vũ; chức vụ: Phó Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Ông Đinh Xuân Hiếu – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp, nội dung vụ việc được tóm tắt như sau:
Hành vi của người bị đề nghị Phạm T như sau: Ngày 26/6/2022, Phạm T bị Ủy ban nhân dân thị trấn L1 áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 104/QĐ-UBND với thời hạn áp dụng là 01 năm kể từ ngày 26/6/2022 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong thời gian áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, Phạm T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 11/4/2023, sau khi bị cơ quan Công an thị trấn L1 phát hiện, lập biên bản làm việc và đưa đi xét nghiệm; tại phiếu trả lời kết quả ngày 13/4/2023, Trung tâm Y tế huyện T xác định Phạm T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine; trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác định nghiện ma túy (ngày 13/4/2023), Phạm T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/4/2023, Công an thị trấn L1 lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T. Ngày 09/5/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn L1 ban hành văn bản số 01/ĐN-CNBB, đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T và chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T xem xét theo thẩm quyền. Ngày 15/5/2023, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T ban hành văn bản số 85/LĐTBXH, đề nghị Tòa án nhân dân huyện T xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có ý kiến: Khẳng định đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật phòng chống ma túy năm 2021 và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T trong thời hạn từ 12 - 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết hồ sơ, Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đã tuân thủ theo đúng quy định Luật phòng chống ma túy năm 2021 và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T đã được lập đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục và đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và các điều 40, 41, 42 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021.
Về thẩm quyền xem xét áp dụng và thời hiệu áp dụng:
Cơ quan đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T là Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T. Do đó, việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Phạm T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022.
Hồ sơ đề nghị thể hiện thời điểm cuối cùng Phạm T sử dụng trái phép chất ma túy là vào ngày 11/4/2023, tính đến ngày mở phiên họp (ngày 25/5/2023) là chưa quá 03 tháng. Do đó, còn thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm T căn cứ theo quy định điểm d khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về hành vi vi phạm; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hướng xem xét xử lý:
Phạm T là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định. Tuy nhiên, trong thời gian bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, Phạm T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; sau khi bị cơ quan Công an thị trấn L1 phát hiện có hành vi sử dụng ma túy và Trung tâm y tế huyện T xét nghiệm có kết quả nghiện ma túy với loại ma túy Methamphetamine, Phạm T đã không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại Ủy ban nhân dân thị trấn L1theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021. Do đó, Phạm T thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 32 Luật phòng, chống túy năm 2021. Việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bản thân nhưng Phạm T vẫn sử dụng trái phép; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm T đã xâm phạm đến chủ trương của Nhà nước về phòng chống tệ nạn ma túy. Hơn nữa, Phạm T đang trong thời hạn quản lí người sử dụng trái phép chất ma túy, Phạm T không cố gắng cai nghiện, giáo dục lại bản thân mà còn tiếp tục có hành vi vi phạm. Vì vậy, cần căn cứ Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020), quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T trong một khoảng thời gian phù hợp, để giáo dục, rèn luyện, tập trung cai nghiện ma túy cho Phạm T và phòng ngừa tệ nạn xã hội chung, đặc biệt là trong tình trạng việc sử dụng trái phép chất ma túy đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng như hiện nay.
Về ý kiến đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị:
Đại diện Phòng Lao động – Thương Binh và Xã hội huyện T đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm T là có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Phạm T, sinh ngày 16 tháng 5 năm 1994, nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khu phố L, thị trấn L1, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị, cha mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án; Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Toà án công bố quyết định - Ngày 25/5/2023.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T phối hợp với Công an huyện T tổ chức thi hành quyết định này (đã giải thích quyền khiếu nại).
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - P.LĐ-TB và XH H.Tánh Linh; - Công an H.Tánh Linh; - VKSND H.Tánh Linh; - UBND thị trấn Lạc Tánh; - TT.CB-GD-LĐXH T.Bình Thuận; - Lưu hs. | Nguyễn Thị Yến |