vanban.org

Quyết định 20/2020/QĐ-XLHC

TAND TX. Sơn Tây, TP. Hà Nội Tuyên án 15/10/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Cà Văn P.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P có quyền kiến nghị quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện P có quyền khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "A"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Cà Văn P.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P, TP. P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2020/QĐ - XLHC
Ngày 28 - 9 - 2020

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ P

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:

1. Thẩm phán: Ông Hoàng Đức Hiếu

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Anh Dũng

Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, thành phố P mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 20/2020/QĐ-TA ngày 22 tháng 9 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Cà Văn P; giới tính: Nam; sinh năm 1998; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 6; HKTT: Bản C, xã C, huyện N, tỉnh M; sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định; con ông Cà Văn V và bà Quàng Thị S; tiền án: Không; tiền sự: Không, có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, thành phố P: Bà Khuất Thu Hương, Kiểm sát viên, có mặt.

- Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Hà Hữu Thính, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P, thành phố P. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy Phúc, cán bộ Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P, có mặt.

NHẬN THẤY:

Hồ sơ thể hiện: Anh Cà Văn P, sinh năm 1998; HKTT: Bản C, xã C, huyện N, tỉnh M. Từ khoảng đầu năm 2019, anh P sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định. Anh P sử dụng và nghiện chất ma túy từ khoảng đầu năm 2019. Nay anh P vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Lần cuối cùng anh P sử dụng trái phép chất ma túy là ngày 13/9/2020. Ngày 15/9/2020, Cơ quan chuyên môn xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của anh P, kết quả: Dương tính. Anh P đã làm bản kiểm điểm và bản tường trình về việc bản thân nghiện chất ma túy.

Tại phiên họp: Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P, thành phố P đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Cà Văn P, thời hạn 20-24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1, P.

Anh P trình bày: Anh nghiện chất ma túy từ khoảng đầu năm 2019. Từ khoảng đầu năm 2019 đến nay, anh sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định. Hiện tại, anh vẫn đang nghiện chất ma túy. Anh đồng ý đi cai nghiện bắt buộc, nhưng đề nghị Tòa án áp dụng mức thời gian cai nghiện thấp nhất để anh sớm được về nhà chăm sóc bố mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu ý kiến: Hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện P được lập đầy đủ, đúng theo qui định của pháp luật. Các cơ quan và người tiến hành xét hồ sơ, người tiến hành phiên họp, người tham gia phiên họp thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định của pháp luật. Đề nghị Tòa án quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh Cà Văn P thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị;

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị là anh Cà Văn P được lập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Anh P là người nghiện chất ma túy trên 18 tuổi, sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định. Căn cứ quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và các văn bản hướng dẫn, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Cà Văn P là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, cần thiết áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với anh P. Tuy nhiên, khi quyết định mức thời hạn cai nghiện bắt buộc, Tòa án cũng xem xét, anh P có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về vi phạm của mình, mong muốn cai nghiện tốt để sớm được về nhà chăm sóc bố mẹ.

Căn cứ Điều 9; 95, 96, 105, 107, 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Điều 23, 24, 30, 31 của Pháp lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định 221/2013/NĐ - CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn cứ Nghị định 136/2016/NĐ - CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Cà Văn P.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P có quyền kiến nghị quyết định, Viện kiểm sát nhân dân huyện P có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 03 ngày kể từ ngày công bố quyết định. Người vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại kể từ ngày nhận được bản sao quyết định hoặc quyết định được niêm yết.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện P và Công an huyện P có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ