vanban.org

Quyết định 20/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 10/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Tuấn D.

Tuyên bố bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mất tích. Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông D yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Tuấn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 20/2019/QĐST-DSB, ngày 10 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương

Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 541/2018/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2018, theo quyết định mở phiên họp số 504/2019/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1985;

Địa chỉ: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Ông Nguyễn Tuấn D và bà Lê Thị Bích T là vợ chồng, có tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 18/02/2011. Trong quá trình chung sống, ông D và bà T có 02 con chung là cháu Nguyễn D, sinh ngày 17/11/2011 và Nguyễn Bảo Y, sinh ngày 19/7/2014. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn gay gắt, dẫn đến tình cảm không còn. Từ tháng 8 năm 2014, bà T đã bỏ nhà đi đến nay không về. Ông D đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có tin tức gì của bà T.

Vì vậy, ông D làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Lý do, mục đích yêu cầu để ông D làm thủ tục ly hôn với bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ngày 26/10/2018, Ông Nguyễn Tuấn D, sinh năm 1985; địa chỉ: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.

Ông Nguyễn Tuấn D và bà Lê Thị Bích T chung sống với nhau có tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 29 ngày 18/02/2011 nên căn cứ Điều 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Về con chung, ông D và bà T có 02 con chung là cháu Nguyễn D, sinh ngày 17/11/2011 và Nguyễn Bảo Y, sinh ngày 19/7/2014. Theo xác nhận của Công an phường T ngày 06/7/2018 thì bà Lê Thị Bích T có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng đã đi khỏi địa phương từ tháng 8 năm 2014 đến nay không có tin tức gì. Ông D cũng đã tìm kiếm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng vẫn không có tin tức của bà T.

Ngày 08/01/2019, Tòa án nhân dân thành phố B đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Lê Thị Bích T và đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. Ông Nguyễn Tuấn D đã đăng thông báo trên Báo Lao động trong ba số liên tiếp vào các ngày 28, 29 và 30/01/2019 và phát sóng trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV) ba lần trong ba ngày liên tiếp 25, 26 và 27/01/2019.

Tuy nhiên, đã hết thời hạn 04 tháng nhưng bà Lê Thị Bích T không có liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai để giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Đồng thời, cũng không ai thông báo cho Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Ủy ban nhân dân phường T hoặc ông Nguyễn Tuấn D về tin tức của bà Lê Thị Bích T.

Vì vậy, yêu cầu của ông Nguyễn Tuấn D về việc tuyên bố một người mất tích đối với bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Ông D không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là bà Lê Thị Bích T nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. B: Việc dân sự giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Tuấn D đối với bà Lê Thị Bích T từ khi thụ lý đến phiên họp đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 362, 363, 365, 387 Bộ luật tố tụng dân sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.

Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ xác định: bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã biệt tích từ tháng 8 năm 2014 đến nay, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực bà T còn sống hay đã chết. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 388 và 389 Bộ luật tố tụng Dân sự đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của ông D.

Ông D không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích là bà Lê Thị Bích T nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu tại phiên họp phù hợp với nhận định nêu trên, nên chấp nhận.

Về lệ phí: Ông Nguyễn Tuấn D phải nộp 300.000đồng;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 362, 363, 365, 387, 388 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Nguyễn Tuấn D.

Tuyên bố bà Lê Thị Bích T, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: 23/5, khu phố 10, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mất tích.

2. Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tuấn D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, theo biên lai thu số 009750 ngày 28/11/2018.

4. Ông Nguyễn Tuấn D và bà Lê Thị Bích T được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ