- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 297/2018/TLST-DS ngày 06/7/2018 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa: Nguyên đơn: Ông Trần Thế H, sinh năm 1953.
- Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/2019/QĐST-DS | Gò Vấp, ngày 22 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Căn cứ vào các Điều 48, điểm b khoản 1 Điều 192, Điều 217, 218, 219, 271, khoản 2 Điều 273, Điều 278 và khoản 2 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm; Xét thấy: Nguyên đơn là ông Trần Thế H rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn là bà Lê Thị T có yêu cầu phản tố đề ngày 17/9/2014 yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất (tạm thời) số 1557/GCN-RĐ ký ngày 24/8/1991 của Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Trần Thế H. Căn cứ vào kết quả cung cấp chứng cứ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Gò Vấp thể hiện, Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất (tạm thời) số 1557/GCN-RĐ ký ngày 24/8/1991 của Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp cấp cho ông Trần Thế Hđã bị thu hồi theo quyết định số 394/QĐ-UB-QLĐT ngày 14/6/2004 của Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp. Xét tại thời điểm bà Lê Thị T có yêu cầu phản tố thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất (tạm thời) nêu trên là đối tượng yêu cầu không còn tồn tại. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 15/01/2019 bà Lê Thị T cũng thừa nhận Giấy chứng nhận trên đã không còn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Như vậy, yêu cầu phản tố của bà Lê Thị T là thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 297/2018/TLST-DS ngày 06/7/2018 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, giữa: Nguyên đơn: Ông Trần Thế H, sinh năm 1953. Địa chỉ: đường số HM, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1941. Địa chỉ: đường Q, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/ Ủy ban nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ: đường Q, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Nguyên Linh B - Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường. 2/ Bà Trương Thị Thanh P, sinh năm 1961; 3/ Ông Trương Hữu T, sinh năm 1964; 4/ Ông Trương Hữu V, sinh năm 1967; 5/ Ông Trương Hữu L, sinh năm 1970; 6/ Bà Trương Thị Thanh D, sinh năm 1973; 7/ Ông Trương Hữu N, sinh năm 1975; 8/ Ông Trương Hữu A, sinh năm 1977; 9/ Ông Trương Hữu C, sinh năm 1981. Cùng địa chỉ: đường Q, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T, ông L, ông A, ông C cùng ủy quyền cho ông Trương Hữu N, sinh năm 1975 làm người đại diện. 10/ Bà Trương Thị Thu T, sinh năm 1956. Địa chỉ: đường HM, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
- Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật;
- Trả lại cho ông Trần Thế H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) theo Biên lai thu số 002576 quyển số 0052 ngày 09/5/2007 của Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trả lại cho bà Lê Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 01911 ngày 17/9/2014 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP.HCM; - Viện KSND Q.Gò Vấp; - Chi cục THADS Q.Gò Vấp; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Trần Văn Điệp |