- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Bùi Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 20/2017/QĐDS-ST Ngày: 08-12-2017 “V/v: Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị My My – Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 08/12/2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 21/2017/TLST-VDS ngày 07/7/2017 về: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo quyết định mở phiên họp số 09/2017/QĐPH-ST ngày 30/11/2017.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Bùi Văn T - Sinh năm: 1977
Địa chỉ: Thôn M, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị D - Sinh năm: 1988
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Anh Bùi Văn T trình bày: Tôi và cô Nguyễn Thị D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 25/8/2011. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn, do vợ chồng cãi nhau về việc làm ăn rồi không còn tôn trọng lẫn nhau nữa, đến tháng 03/2015 thì cô D tự bồng con bỏ đi đến nay không có tin tức gì. Tôi và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức, nay tôi đề nghị Tòa án tuyên bố cô Nguyễn Thị D mất tích.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:
- Anh Bùi Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988 là vợ anh T mất tích, vì chị D tự ý bỏ nhà đi từ tháng 03/2015 đến nay không về, khi đi chị D không báo cho chính quyền địa phương biết nên gia đình và địa phương không biết hiện nay đang ở đâu, làm gì.
Ngày 25/7/2017 Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 05/2017/QĐ-VDS để thông báo trên phương tiện thông tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị D để có cơ sở giải quyết việc dân sự. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị D.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự, lời khai của người yêu cầu thể hiện chị Nguyễn Thị D - sinh năm 1988, nơi cư trú cuối cùng: Thôn M, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đã bỏ nhà đi từ tháng 03/2015 đến nay không về, khi đi chị D không báo cho chính quyền địa phương biết nên gia đình và địa phương không biết hiện nay đang ở đâu, làm gì. Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột cũng đã làm thủ tục tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức của chị D. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị D của anh Bùi Văn T.
- Xét yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị D mất tích của anh Bùi Văn T là có cơ sở và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận. Anh Bùi Văn T phải chịu lệ phí việc dân sự và chi phí đăng thông báo, nhắn tin theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: - Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Bùi Văn T.
Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988 mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Anh Bùi Văn T phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí mà anh T đã nộp, theo biên lai thu số 0000753 ngày 30 tháng 6 năm 2017 tại chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Anh Bùi Văn T phải nộp 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị D. Được khấu trừ số tiền 2.425.000 đồng mà anh T đã nộp theo phiếu thu số 106, quyển số 10 ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP.BMT, tỉnh Đắk Lắk - Chi cục THADS thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị My My |