vanban.org

Quyết định 196/2017/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1986; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên và ông Lê Nguyễn Anh H, sinh năm 1982; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên.

Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Về con chung: Bà Trần Thị Ánh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Trần Hoàng L, sinh ngày 11/9/2014. Ông Lê Nguyễn Anh H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Trần Ngọc H, sinh ngày 02/11/2011. Hai bên k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Trần Thị Ánh N và anh Lê Nguyễn Anh H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1986; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên và ông Lê Nguyễn Anh H, sinh năm 1982; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 196/2017/QĐST-HNGĐTuy Hòa, ngày 25 tháng 8 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ

SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ vụ án Hôn nhân & gia đình sơ thẩm thụ lý số 298/2017/TLST- HN&GĐ ngày 02 tháng 8 năm 2017 giữa:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1986; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên.

Bị đơn: Ông Lê Nguyễn Anh H, sinh năm 1982; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên.

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 17 tháng 8 năm 2017.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 17 tháng 8 năm 2017 là hoàn toàn tự nguyện; không vi phạm điều cấm của Luật; không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Trần Thị Ánh N, sinh năm 1986; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên và ông Lê Nguyễn Anh H, sinh năm 1982; Địa chỉ: 14/8 Lê Thành P, phường 8, thành phố TH, tỉnh Phú Yên.

2. Sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

-Về con chung: Bà Trần Thị Ánh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Trần Hoàng L, sinh ngày 11/9/2014. Ông Lê Nguyễn Anh H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Trần Ngọc H, sinh ngày 02/11/2011. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các bên có quyền yêu cầu thay đổi nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

-Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

-Về án phí: Bà Trần Thị Ánh N tự nguyện chịu 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng) án phí HNGĐ-ST. Bà N đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0005021 ngày 02/8/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH, tỉnh Phú Yên, nên được hoàn lại 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng).

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ