- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "Tranh chấp chia tài sản chung"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| Toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè hµ néi ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Sè: 192/2016/Q§- PT quyÕt ®Þnh GIẢI QUYẾT kh¸ng c¸o quyÕt ®Þnh §×nh chØ Toµ ¸n nh©n d©n thµnh phè hµ néi Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: - Chủ Tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thúy- Thẩm phán - Các Thẩm phán: - Bà Trần Thị Liên Anh - Thư ký phiên họp: Ông Phạm Thái An - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Ngô Phương Liên- Kiểm sát viên NhËn thÊy ngày 29 tháng 6 năm 2016 khoản 1 Điều 168, điểm I khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2005 đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự về: “ Tranh chấp chia tài sản chung” giữa: huyện Đ, Hà Nội Địa chỉ hiện nay: thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội. chỉ: xã V, huyện Đ, Hà Nội Toµ ¸n cÊp phóc thÈm huû quyÕt ®Þnh ®×nh chØ nªu trªn với lý do quyết định đình chỉ trái pháp luật. |
XÉT THẤY
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Y trình bày:
Bố, mẹ bà là cụ Hoàng Văn L ( chết năm 1951) và Cao Thị V ( chết năm 1993) có 03 con là: Bà Hoàng Thị M ( chết năm 2015), ông Hoàng Văn Th ( là Liệt sĩ hi sinh năm 1969), và bà là Hoàng Thị Y. Năm 1954, bốn mẹ con bà tản cư từ Vĩnh Yên về, được HTX Dục Nội cấp cho 100 m2 đất tại Cống Đình, thôn Dục Nội, Đông Anh, Hà Nội, mẹ con bà làm nhà đắp đất, lợp dạ ở. Năm 1958, bà Mùi đi lấy chồng. Năm 1969, bà Yên đi lấy chồng. Năm 1971, do nhà của gia đình bà nằm trên cống thoát nước nên HTX thôn Dục Nội đổi đất cho gia đình bà về 528 m2 đất thửa 313 tờ bản đồ số 5 B thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, Huyện Đông Anh, Hà Nội và gia đình bà chuyển nhà lá cũ sang đất này ở. Năm 1972, chồng bà Mùi chết nên bà Mùi xin chuyển về đây ở cùng cụ Vân. Năm 1980, cụ Vân cùng bà Mùi và bà xây dựng trên đất gồm: Một ngôi nhà xây gạch lợp ngói 5 gian diện tích khoảng 50 m2; 02 gian bếp xây gạch lợp ngói khoảng 30 m2 và sân gạch bìa DT khoảng 30 m2. Năm 1987, cụ Vân viết giấy chia cho bà 200 m2, chia cho bà Mùi 328 m2 có sự chứng kiến của ông Ngô Văn Long, bà Cao Thị Quế ( gọi cụ Vân là cô ruột) và của bà Trần Thị Mão là Phó chủ tịc xã Việt Hùng. Năm 1993 cụ Vân chết. Năm 1995, bà ly hôn chồng và về ở cùng mẹ con bà Mùi trên đất này nhưng ăn riêng. Năm 1996, bà làm nhà tắm. Năm 1997, bà mua nhà đất tại thị trấn Đông Anh lên chuyển ra đó ở. Năm 2003 bà và bà Mùi đã thỏa thuận để bà về nhận đất, có sự chứng kiến của ông Long và ông Đoan là con cậu ruột đã chỉ vị trí đất cho bà về phía Đông, nơi có nhà tắm bà làm và vài cây cối nhưng do anh Triệu không đồng ý nói là đất của bố anh là ông Ngô Văn Tỵ xin HTX, không phải của cụ Vân nên bà không nhận được đất.
Trong đơn khởi kiện, bà Yên xác định: “ Tôi được hưởng 1/3 quyền về nhà đất do tôi được cấp chung đất với mẹ tôi, bà Mùi và công sức đóng góp xây dựng công trình, mẹ tôi viết giấy cho tôi 200 m2 đất năm 1987. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung của gia đình tôi, mẹ tôi đã có văn bản chia cho tôi 200 m2 đất ở nên buộc anh triệu phải trả tôi 200 m2 đất ở và tài sản xây dựng năm 1980”
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện gồm:
- Bản sao trích lục bản đồ 299 năm 1984
- Các Biên bản hòa giải, biên bản làm việc của UBND xã Việt Hùng
- Bản chính giấy chia đất của cụ Cao Thị Vân
- Bản sao giấy chứng tử của cụ Vân, cụ Lệ, bà Mùi ; Chứng minh nhân
dân, sổ hộ khẩu của nguyên đơn.
Ngày 29/6/2016, Tòa án huyện Đông Anh ra quyết định đình chỉ vụ án với nhận định: Các đương sự không xuất trình được văn bản để Tòa án áp dụng chia tài sản chung : “ Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế” theo điểm 2.4 Mục 2 phần I- Nghị quyết 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 nên xác định đơn khởi kiện của bà Yên thuộc trường hợp: “ Chưa đủ điều kiện khởi kiện” và áp dụng điểm d khoản 1 Điều 168, điểm I khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2005 đình chỉ việc giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị Y khởi kiện chia tài sản chung là diện tích đất và tài sản trên đất với lý do bà là đồng sở hữu chung do được cấp chung diện tích đất với cụ Vân và được cụ Vân viết giấy chia cho bà 200 m2 từ 1987; bà có công sức tạo lập tài sản trên đất từ 1980. Bà đề nghị bị đơn là Anh Ngô Văn Tr phải trả bà 200 m2 đất và tài sản xây dựng năm 1980. Như vậy, cần xác định nguyên đơn khởi kiện chia tài sản theo văn bản chia đất của cụ Vân năm 1987 và chia tài sản là nhà và các công trình trên đất làm năm 1980 có công sức đóng góp của bà. Với đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn xuất trình, Tòa án huyện Đông Anh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Yên không phải là yêu cầu chia tài sản chung là di sản chưa chia của cụ Vân. Do đó, quyết định đình chỉ vụ án của Tòa án huyện Đông Anh với nhận định: Các đương sự không xuất trình được văn bản để Tòa án áp dụng chia tài sản chung : “ Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế” theo điểm 2.4 Mục 2 phần I- Nghị quyết 02/2004/NQ- HĐTP ngày 10/8/2004 nên xác định đơn khởi kiện của bà Yên thuộc trường hợp: “ Chưa đủ điều kiện khởi kiện” và áp dụng điểm d khoản 1 Điều 168, điểm I khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2005 quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án là không chính xác, ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của đương sự. Đơn kháng cáo của bà Yên là có căn cứ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp giải quyết đơn kháng cáo đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị Y: Hủy quyết đình chỉ số 09/2016 ngày 29/6/2016 của Tòa án huyện Đông Anh; Giao hồ sơ vụ án về Tòa án huyện Đông Anh giải quyết lại từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội là có căn cứ, đúng pháp luật cần được chấp nhận.
Về án phí DSST: Số tiền tạm ứng án phí DSST bà Yên đã nộp sẽ được giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại vụ án.
Về án phí DSPT: Do yêu cầu kháng cáo của bà Yên được chấp nhận nên bà Yên không phải chịu án phí phúc thẩm, bà được hoàn trả 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà đã nộp.
Bởi các lẽ trên,
Áp dụng: Điểm c Khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
QuyÕt ®Þnh
1. Hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 09/2016/QĐ- ST ngày 29/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội.
2. Giao hồ sơ vụ án vụ án dân sự về: “ Tranh chấp chia tài sản chung” giữa:
Nguyên đơn: bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1951; Hộ khẩu thường trú: Khu Trung, thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội
Địa chỉ hiện nay: Số nhà 25, tổ 12, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Bị đơn: Anh Ngô Văn Tr, sinh năm 1965; Địa chỉ: Khu Trung, thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị L, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu Trung, thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội
Về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Hà Nội để giải quyết lại từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung
3. Về án phí DSST: Số tiền tạm ứng án phí DSST bà Yên đã nộp sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
4. về án phí DSPT: Hoàn trả bà Hoàng Thị Y 200.000 đồng tạm ứng
án phí phúc thẩm bà đã nộp theo BL số 0003575 ngày 15/7/2016 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đông Anh, Hà Nội
5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành 28/10/2016.
| Nơi nhận: - Các đương sự - Tòa án huyện Đông Anh - Viên Kiểm sát TP. Hà Nội - Chi cục THA H. Đông Anh - Lưu Hồ sơ, - Lưu VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thúy |