vanban.org

Quyết định 19/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Anh Lê Tuấn A.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Anh Lê Tuấn A vắng mặt tại phiên họp thì có quyền khiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Anh Lê Tuấn A.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 19/QĐ-TALâm Đồng, ngày 01 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - LÂM ĐỒNG

Với thành phần tiến hành phiên họp:

1. Thẩm phán: Ông Đặng Xuân Ngọc

2. Thư ký phiên họp: Ông Bá Văn Nhân

Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng và điểm cầu thành phần: Công an xã P, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Lâm Đồng, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 19/2025/QĐ-TA ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với:

Họ tên: Lê Tuấn A

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 05/5/1993.

Số căn cước công dân: 060093012320, cấp ngày 28/06/2021; nơi cấp: Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự - xã hội.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 7/12.

Hộ khẩu thường trú: Tổ tự quản số E, xã P, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở hiện nay: Tổ tự quản số E, xã P, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Lê Tuấn H và bà Phạm Thị Thu T.

Người bị đề nghị Lê Tuấn A vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông K – Trưởng Công an xã P, tỉnh Lâm Đồng

(Tham gia tại điểm cầu thành phần: Trụ sở Công an xã P, tỉnh Lâm Đồng)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng: Bà Đặng Thị Thu V - Kiểm sát viên.

(Tham gia điểm cầu thành phần: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Lâm Đồng).

NHẬN THẤY:

Ngày 11/11/2025, Lê Tuấn A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (loại heroin) một mình tại nhà riêng tại Tổ tự quản số E, xã P, tỉnh Lâm Đồng (theo kết quả xét nghiệm ngày 11/11/2025 của Trung tâm Y tế K1 xác định dương tính với ma túy, loại ma túy sử dụng là M), hết thời hạn đăng ký cai nghiện tự nguyện nhưng Lê Tuấn A không đăng ký cai nghiện nên ngày 14/11/2025, Công an xã P, tỉnh Lâm Đồng lập biên bản vi phạm hành chính với hành vi này và tiến hành các thủ tục để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tuấn A.

Ý kiến của ông K - Đại diện Công an xã P: Căn cứ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Công an xã P đã đủ cơ sở để xác định Lê Tuấn A có nghiện ma túy, nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính buộc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tuấn A với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng: Công an xã P có đề nghị số 776/ĐN-CNBB ngày 17/11/2025 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy số C tỉnh Lâm Đồng đối với Lê Tuấn A là có căn cứ, cần thiết và đúng quy định tại Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025; các Điều 40, 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của công an xã P áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tuấn A với thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của anh Lê Tuấn A: Anh Lê Tuấn A vắng mặt tại phiên họp.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của việc lập hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Tuấn A: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Công an xã P đúng thẩm quyền, còn trong thời hiệu xem xét, việc lập hồ sơ đúng quy định tại Điều 40, 41 của Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy và Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Xét nội dung đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Tuấn A: Lê Tuấn A có hộ khẩu thường trú tại Tổ tự quản số E, xã P, tỉnh Lâm Đồng và hiện cư trú ổn định tại đây. Căn cứ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do công an xã P đã đủ cơ sở để xác định: Lê Tuấn A, sinh năm 1993 là người nghiện ma túy, đã đủ 18 tuổi. Theo kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 11/11/2025 của Trung tâm y tế khu vực B xác định Lê Anh T1 sử dụng loại ma tuý là M. Hết thời hạn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Lê Tuấn A không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do vậy, Công an xã P biên bản vi phạm hành chính và tiến hành các thủ tục để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, nhân thân và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ của hành vi vi phạm hành chính của người bị đề nghị Lê Tuấn A: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Lê Tuấn A không những đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, xâm hại đến sức khoẻ, sự tồn vong của con người và là nguyên nhân của một số tội phạm khác. Anh Lê Tuấn A có đầy đủ nhận thức để biết hành vi sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị pháp luật xử lý nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, xét thấy đề nghị của công an xã P và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Lâm Đồng là có căn cứ. Vì vậy, cần phải đưa Lê Tuấn A vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để giáo dục và phòng ngừa chung, tạo điều kiện cho đối tượng này cai nghiện ma túy là phù hợp với pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng: Điều 3, Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 19, Điều 23, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 149/VBHN-VPQH ngày 05 tháng 9 năm 2025 (Hợp nhất Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 40, Điều 41 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Anh Lê Tuấn A.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Anh Lê Tuấn A vắng mặt tại phiên họp thì có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết hợp lệ. Công an xã P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Lâm Đồng có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định (01/12/2025).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã P có trách nhiệm đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ