vanban.org

Quyết định 19/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với cháu Phạm Trung T tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Trung T là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cháu Phạm Trung T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "buộc đi cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với cháu Phạm Trung T tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 100 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:19/QĐ-TACư Kuin, ngày 24 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Lợi

2. Thư ký phiên họp: Bà Lâm Thị Nhưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin

Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/QĐ-TA ngày 21 tháng 9 năm 2020 đối với người bị đề nghị:

Họ và tên: Cháu Phạm Trung T - Sinh ngày 05/7/2000.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn a, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Phạm Kim N và bà: Vũ Thị A; tiền sự: 0; hiện giao cho bà Vũ Thị A, ông Lê Tiến Q,ông Hoàng Đ quản lý từ ngày 27/8/2020, có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C:

Ông Ngô Tấn L - Chức vụ: Phó Trưởng phòng

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H - Chức vụ: Công chức

Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C (có mặt).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin: Bà Nguyễn Thị Minh - Kiểm sát viên (có mặt).

NHẬN THẤY:

Đối tượng Phạm Trung T bị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện C đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy với hành vi như sau:

Tại Bản tự khai, bản tường trình và biên bản ghi lời khai cùng ngày 11/8/2020 Phạm Trung T khai nhận vào ngày 03 đến ngày 04/8/2020 Phạm Trung T được ông Đỗ Phát H gọi đến sử dụng ma túy tại phòng trọ của ông H ở đường Nguyễn văn Q, phường Đ, quận C, Tp Hồ Chí Minh, loại ma túy sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút trực tiếp, sử dụng xong thì ông H bắt trả phí là 200.000 đồng. Sau đó Công an huyện Cư Kuin phát hiện và đã đưa Phạm Trung T đi kiểm tra (test) xem xét việc sử dụng chất ma túy. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 11/8/2020 và phiếu trả lời kết quả xét nghiệm ngày 11/8/2020 của Bệnh viện đa khoa thành phố B thể hiện kết quả xét nghiệm Phạm Trung T dương tính (+) với Test Amphetamin, Methamphetamin (ma túy đá). Bản thân Phạm Trung T đã bị Chủ tịch UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn là 03 tháng theo quyết định số 273 /QĐ-UBND ngày 25/12/2019 của UBND xã E.

Tại Công văn số 36/PTP ngày 11/9/2020, Phòng Tư pháp huyện C đã kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, kết luận hồ sơ đảm bảo đầy đủ tính pháp lý theo quy định của pháp luật, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phạm Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và chuyển cho Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C xem xét xử lý theo quy định.

Tại công văn số 439/LĐTBXH ngày 15/9/2020 Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản pháp luật khác đưa Phạm Trung T vào Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk với thời gian từ 16 - 18 tháng, kể từ ngày người bị đề nghị vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp Phạm Trung T ý kiến: Bản thân là người nghiện ma túy và có nguyện vọng được cai nghiện theo quy định của pháp luật nên việc lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng, không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Căn cứ vào các điều 95, 96, 103 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Căn cứ các điều 22, 23 và 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP “Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin chấp nhận đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phạm Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 16 tháng đến 18 tháng, kể từ ngày vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của cơ quan đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin và người bị đề nghị:

XÉT THẤY:

Lời khai của người bị đề nghị phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ việc. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Cháu Phạm Trung T là người nghiệm ma túy đã được UBND xã E, huyện C áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng nhưng không có kết quả, chưa từ bỏ hẳn được ma túy, sau khi chấp hành xong vẫn còn tiếp tục sử dụng ma túy vào ngày 03 đến ngày 04/8/2020 bị phát hiện và đã được kiểm tra tình trạng nghiện ma túy, tại phiếu trả lời kết quả ngày 11/8/2020 của Bệnh viện đa khoa Tp B “Xác định ông Phạm Trung T địa chỉ thường trú: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk có nghiệm ma túy tên ma túy sử dụng: Amphetamin, Methamphetamin”, Phạm Trung T là người có năng lực trách nhiệm hành chính đầy đủ, có đăng ký hộ khẩu thường trú ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C đề nghị Tòa án đưa Phạm Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định như sau:

“1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.

Xét tính chất mức độ hành vi vi phạm của cháu Phạm Trung T là vi phạm pháp luật hành chính, đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và gây ảnh hưởng xấu cho xã hội về nhiều mặt, Phạm Trung T có đủ khả năng nhận thức được ma túy (Methamphetamin) là chất ma tuý có khả năng gây nghiện cao nghiêm cấm sử dụng trái phép. Phạm Trung T đã tự ý sử dụng ma túy không được sự cho phép của cơ sở y tế điều trị hoặc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm quy định của pháp luật, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bản thân có tiền sử về sử dụng ma túy, đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng vẫn lại tiếp tục sử dụng ma túy nên cần đưa Phạm Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian nhất định là cần thiết, nhằm mục đích cai nghiện, rèn luyện, tu dưỡng cho bản thân Phạm Trung T để khi tái hoà nhập với cuộc sống cộng đồng trở thành người công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Quá trình lập hồ sơ áp dụng biện pháp sử lý hành chính Phạm Trung T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét thời gian đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về tính hợp pháp của hồ sơ: Hồ sơ đề nghị đã được lập đầy đủ, chặt chẽ, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật; Bảo đảm sự tham gia quyền lợi, nghĩa vụ của người bị đề nghị, không vi phạm về thời hiệu, thời hạn giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 9, 95, khoản 1, Điều 96; Khoản 2 Điều 105 và 100; Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Căn cứ các điều 22, 23 và 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”; Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP “Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với cháu Phạm Trung T tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Trung T là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cháu Phạm Trung T có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Cư Kuin, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C, Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Cỡ chữ