- Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 17 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/QĐ-TA | Châu Thành, ngày 24 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 15/QĐ-TA ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với:
Người bị đề nghị Lê Tú A, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1994; CCCD số: 072094001584; ngày cấp: 12/8/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C1; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không có, nghề nghiệp: Làm mướn, trình độ văn hoá: 08/12. nguyên quán: Tây Ninh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Tiền án: không có; tiền sự: ngày 26/9/2023, Công an xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, ra quyết định số 52/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính Lê Tú A số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt vào ngày 04/10/2024).
Con ông Lê Văn C và bà Lê Thị T .
Người bị đề nghị Lê Tú A vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn K – Phó Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Võ Minh Mẫn - Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY:
Lê Tú A là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 15/9/2024, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã T, huyện C phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính ngày 17/9/2024 và xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPHC ngày 26/9/2023.
Ngày 17/9/2023, Ủy ban nhân dân xã T, huyện C ra quyết định số 21/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý thời hạn là 01 năm, tính từ ngày 17/9/2023.
Ngày 29/5/2024, Anh tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T lập biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính vào ngày 02/6/2024 và phối hợp với Trạm y tế xã T, huyện C tiến hành kiểm tra xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể A kết luận: Lê Tú A dương tính với chất ma túy. Công an xã T, huyện C có văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Tú A.
Ngày 12/6/2024, Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tây Ninh ban hành Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy; kết quả xác định là Lê Tú A nghiện ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Ủy ban nhân dân xã T, huyện C hồ sơ và cho Lê Tú A đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.
Ngày 13/6/2024, Ủy ban nhân dân xã T, huyện C ban hành quyết định số 05/QĐ-UBND quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Lê Tú A, thời gian cai nghiện từ ngày 13/6/2024 đến ngày 13/6/2025.
Ngày 05/10/2024, Công an xã T tiến hành kiểm tra định kỳ về việc chấp hành quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng của Lê Tú A và tiến hành test nhanh ma túy đối với Lê Tú A; Trạm Y tế xã T trả Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: kết quả A dương tính với chất ma túy. Lê Tú A thừa nhận ngày 04/10/2024 có sử dụng ma túy tại nghĩa địa thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Công an xã T đã lập biên bản làm việc và biên bản vi phạm hành chính, biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế cùng ngày 05/10/2024.
Ngày 08/10/2024 ủy ban nhân dân xã T có văn bản số 10/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A. Ngày 11/10/2024, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C có văn bản đề nghị số 16/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A. Cơ sở cai nghiện bắt buộc mà Anh phải thi hành là tại Cơ sở Cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người bị đề nghị Lê Tú A vắng mặt tại phiên họp nên không có lời trình bày.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên họp:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và quy định của các văn bản pháp luật liên quan. Người bị đề nghị, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và quy định của các văn bản pháp luật liên quan.
Về nội dung: Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Lê Tú A, sinh năm 1994, có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C quyết định cho cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy Lê Tú A thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Về thời hạn áp dụng: Lê Tú A có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên phải chịu tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Trong quá trình giải quyết Anh tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A thời hạn từ 18 đến 24 tháng là cần thiết và đúng quy định.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia phiên họp, nhận thấy:
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị được lập đúng theo quy định tại Điều 41, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối của Tú A bị lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 05/10/2024, còn thời hiệu để áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về về biện pháp xử lý vi phạm hành chính:
Trong hồ sơ thể hiện Lê Tú A là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Đã được Ủy ban nhân dân xã T ban hành quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 13/6/2024, quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Lê Tú A. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng Anh tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy A thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.
Xét đề nghị của Phòng L đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A là có căn cứ nên chấp nhận.
Về thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện: A là người đã có 01 tiền sự bị xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số 52/QĐ-UBND ngày 26/9/2023 của công an xã T (đã nộp phạt ngày 04/10/2024), chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng A vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Trong quá trình giải quyết vụ việc A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn khác tại địa phương, đồng thời tạo điều kiện cho Anh sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A trong thời hạn 18 tháng là cần thiết và đúng quy định.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9; Điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95, 96; khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào các Điều 3, 17, 20, 21, 30, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy;
Căn cứ vào các Điều 41, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Tú A.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 24/10/2024).
Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Lê Tú A có quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ nhận được quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện C; Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện C; Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXH huyện Châu Thành; - VKSND huyện Châu Thành; - Công an huyện Châu Thành; - Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Tây Ninh; - UBND xã T; - Lê Tú A; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |