vanban.org

Quyết định 19/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh H; địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương đối với người bị đề nghị Lò Văn D.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 05/8/2024 tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lò Văn D"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh H; địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương đối với người bị đề nghị Lò Văn D.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 19/QĐ-TA
QUYẾT ĐỊNHÁp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc
Bình Giang, ngày 10 tháng 9 năm 2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Phạm Đức Chính.

2. Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Ngày 10/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số 17/QĐ-TA ngày 30/8/2024, đối với:

Họ và tên: Lò Văn D, giới tính: Nam; sinh ngày 31/12/1976;

Số CCCD: 014076002769; ngày cấp 22/4/2021;

Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an

Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 3/12;

Nguyên quán: Xã T, huyện M, tỉnh Sơn La

Nơi ĐKTT: Bản Két, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La

Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Tiền án, tiền sự: Không

Con ông Lò Văn D1 và bà Lò Thị È.

Bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 05/8/2024, tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, theo Quyết định số 133/QĐ-QLNN ngày 05/8/2024 của Chủ tịch UBND thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương; vắng mặt (có đơn đề nghị xem xét vắng mặt).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Minh T - Trưởng phòng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương: Bà Nguyễn Thu Nga - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Lò Văn D là đối tượng lang thang, không có nơi cư trú ổn định, sử dụng ma túy loại Heroine từ năm 2022. Ngày 23/7/2024, D bị Công an thị trấn K, huyện B phát hiện khi đang đi mua ma túy để sử dụng. Công an thị trấn K tiến hành xét nghiệm ma túy bằng nước tiểu của D, xác định D dương tính với chất ma túy loại OPI trong cơ thể. Cùng ngày, Công an thị trấn K có giấy đề nghị để đề nghị Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Hải Dương xác định tình trạng nghiện ma túy của D. Ngày 26/7/2024, Trung tâm Y tế huyện B có Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với D, xác định: D là người nghiện ma túy loại Heroine. Ngày 26/7/2024 Công an thị trấn K đã thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện cho D biết, Dươi nhất trí, công nhận đúng và không có ý kiến gì; cùng ngày, Công an thị trấn K lập biên bản yêu cầu Dươi trong thời hạn 05 ngày làm việc (kể từ ngày có kết quả xác định nghiện ma túy) phải thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện với Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn K, huyện B.

Ngày 05/8/2024, Công an thị trấn K lập biên bản đối với D về việc không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo yêu cầu của UBND thị trấn K. Quá trình làm việc, D trình bày bản thân không có nhu cầu và không thực hiện việc đăng ký cai nghiện tự nguyện với UBND thị trấn K. Do đó, UBND thị trấn K đã lập biên bản vi phạm đối với Lò Văn D do hành vi vi phạm là người nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện (vi phạm khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ; khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy 2021).

Ngày 05/8/2024 Chủ tịch UBND thị trấn K ra Thông báo số 34A/TB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn D, đã giao thông báo về việc lập hồ sơ và cho D đọc hồ sơ đề nghị, D không có ý kiến gì. Ngày 05/8/2024 Chủ tịch UBND thị trấn K ra Quyết định số 133 giao Lò Văn D cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương qụản lý kể từ ngày 05/8/2024 đến khi nguời có thẩm quyền đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án. Ngày 20/8/2024, UBND thị trấn K, huyện B có văn bản đề nghị phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn D. Ngày 22/8/2024 Phòng Lao động - Thương bình và Xã hội huyện B đã chuyển toàn bộ hồ sơ đề nghị của UBND thị trấn K kèm theo Văn bản số 80/ĐN-LĐTBXH ngày 22/8/2024 đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Lò Văn D.

Tại phiên họp, đại diện của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Toà án xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Lò Văn D theo quy định.

Người bị đề nghị Lò Văn D vắng mặt tại phiên họp và đã có đề nghị xem xét vắng mặt. Tại các bản tự khai trong quá trình lập hồ sơ xác định D là người sử dụng ma túy Heroine từ năm 2022 và không có nơi cư trú ổn định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tại phiên họp phát biểu về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại Điều 20, 21 Pháp lệnh số 03/2022. Căn cứ khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 32; khoản 2 Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 3 Điều 44 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, đề nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D trong thời hạn từ 19 đến 22 tháng, thời hạn tính từ ngày D được giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương quản lý (ngày 05/8/2024).

XÉT THẤY:

Về thủ tục: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B đối với người bị đề nghị Lò Văn D được lập theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 1 Điều 41 Nghị định số 116 ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Lò Văn D không có nơi cư trú ổn định, có hành vi vi phạm tại địa bàn thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương; Cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Hải Dương có trụ sở tại huyện B, tỉnh Hải Dương. Do vậy, hồ sơ thuộc thẩm quyền xem xét giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Về nội dung: Lò Văn D là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi, không thực hiện việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện. Do vậy, Lò Văn D thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021. Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ xác định Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B, tỉnh Hải Dương đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lò Văn D là có căn cứ.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn huyện B. Ma túy có tác hại lớn không chỉ đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải đưa Lò Văn D đi cai nghiện ma túy tại cơ sở điều trị cai nghiện của Nhà nước để có đủ phương tiện giúp Dươi cai nghiện ma túy, giáo dục Dươi trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Lò Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình lập hồ sơ, Lò Văn D đã tự nguyện khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân: Dươi là đối tượng nghiện ma túy.

Xét tính chất hành vi vi phạm, nhân thân của Lò Văn D thấy cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để D có thời gian cai nghiện tập trung, học tập, lao động và tu dưỡng trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội là phù hợp quy định tại Khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 3, Điều 7, Điều 19, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 41 Nghị định 116 ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh H; địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương đối với người bị đề nghị Lò Văn D.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày bị quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là ngày 05/8/2024 tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Lò Văn D có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện B có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện B có trách nhiệm phối hợp với Công an huyện B đưa người phải chấp hành quyết định này vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hải Dương, thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh H; địa chỉ: Khu dân cư C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương để thực hiện cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ