vanban.org

Quyết định 19/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Phong Điền, TP. Huế Tuyên án 29/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phan Thanh N.

Tuyên bố: Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế đã mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phan Thanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Ông Phan Thanh N yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Mỹ D mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phan Thanh N.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 19 /2020/QĐST-DSPhong Điền, ngày 29 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn Trường.

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Như Thuần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2020/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2020 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 02/2020/QĐPH-ST ngày 19 tháng 9 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan Thanh N, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 17-02-2020, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đương sự, nội dung việc dân sự như sau:

- Ông Phan Thanh N và bà Trần Thị Mỹ D là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường X, thành phố L, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận kết hôn số AA ngày DD-MM-2003; có hai con chung là Phan Thị Quỳnh T, sinh ngày 22-11-2003 và Phan Thanh L, sinh ngày 22-6-2008.

- Bà D đã chuyển hộ khẩu từ Phường X, thành phố L, tỉnh Lâm Đồng về thường trú tại thôn B, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; được Công an xã P đăng ký ngày 12-3-2012. Tháng 8-2016, bà D bỏ đi khỏi nơi cư trú; ông đã liên hệ tìm kiếm nhưng không có tin tức nên yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D mất tích; không yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

- Sau khi có quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà D, ông N đã thực hiện việc đăng trên Báo Thanh niên số 137, 138 và 139 vào ngày 16, 17 và 18 tháng 5 năm 2020 và phát sóng trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV8) vào các ngày 15, 16 và 17 tháng 5 năm 2020) nhưng vẫn không có tin tức xác thực về bà D.

- Tại phiên họp, ông N giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp: Đề nghị căn cứ các Điều 369, 370, 384 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để chấp nhận đơn yêu cầu của ông N, ra quyết định tuyên bố bà D đã mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Phan Thanh N yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với bà Trần Thị Mỹ D. Theo văn bản xác nhận của Công an xã P thì nơi cư trú cuối cùng của bà D tại xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc thụ lý là đúng thẩm quyền về loại việc, thẩm quyền theo cấp Tòa án và thẩm quyền theo lãnh thổ.

Về yêu cầu của người yêu cầu:

[2.1] Tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”.

Bà Trần Thị Mỹ D bỏ đi khỏi nơi cư trú từ tháng 8-2016 đến nay không có tin tức, được Công an xã P xác nhận. Tính từ thời điểm có tin tức cuối cùng đã 02 năm liền trở lên. Ông Phan Thanh N có kết hôn với bà D nên có quyền, lợi ích liên quan. Do đó, ông N có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà D mất tích.

[2.3] Ông N đã thực hiện việc đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp theo đúng quy định tại các Điều 384 và 385 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thời hạn thông báo là 04 tháng đã kết thúc nhưng vẫn không có tin tức xác thực bà D còn sống hay đã chết.

Từ những nhận định trên, yêu cầu tuyên bố bà D mất tích của ông N là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông N về tuyên bố bà D đã mất tích là phù hợp với nhận định của Tòa án.

Lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Phan Thanh N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; các Điều 361, 370, 371, 372, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Phan Thanh N.

2. Tuyên bố: Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã P, huyện PĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế đã mất tích.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Phan Thanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2013/008563 ngày 19-02-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; ông N đã nộp đủ lệ phí.

4. Ông Phan Thanh N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định./.

Cỡ chữ