- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Cơ sở bảo trợ xã hội C yêu cầu tuyên bố bàNguyễn Thị B mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Cơ sở bảo trợ xã hội C.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 19/2018/QĐVDS-ST Ngày 03/4/2018 V/v: Tuyên bố một người mất tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂK LĂK
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Ông Trần Duy Đức.
Thư ký phiên họp: Bà Nông Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Bà Ngô Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B tiến hành phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 130/2017/TLST-VDS ngày 12/10/2017 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 12/2018/QĐMPH-VDS ngày 23/3/2018.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Cơ sở bảo trợ xã hội C; Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Thị H – Trụ trì cở sở bảo trợ xã hội C.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949; nơi cư trú cuối cùng: Cơ sở bảo trợ xã hội C (Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk).
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Cơ sở bảo trợ xã hội C yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949 mất tích.
NHẬN THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã B nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Nguyễn Thị B sinh sống tại Cơ sở bảo trợ xã hội C và đã đăng ký hộ khẩu thường trú vào ngày 25/9/2008. Đến tháng 12 năm 2012 bà B tự ý bỏ đi khỏi Cơ sở bảo trợ xã hội C, không báo với Cơ sở cũng như Chính quyền địa phương. Cở sở bảo trợ xã hội C đã tìm kiếm bà B nhiều nơi, nhiều biện pháp nhưng không có tin tức gì của bà B.
Ngày 29/8/2017, Cơ sở bảo trợ xã hội C có đơn yêu cầu TAND thị xã Buôn Hồ tuyên bố bà B mất tích. Yêu cầu của Cơ sở bảo trợ xã hội C phù hợp với quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Buôn Hồ theo khoản 3 Điều 27, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của Cơ sở bảo trợ xã hội C:
Sau khi thụ lý vụ việc, ngày 01/11/2017, TAND thị xã Buôn Hồ đã ra quyết định thông báo tìm kiếm bà B trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 lần liên tiếp vào các ngày 08/11/2017, ngày 09/11/2017 và ngày 10/11/2017 và thông báo tìm kiếm trên Báo Công lý 03 số báo liên tiếp vào các ngày 22/11/2017, ngày 24/11/2017, ngày 29/11/2017. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày thông báo tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của bà B. Tại phiên họp, Cơ sở bảo trợ xã hội C giữ nguyên yêu cầu tuyên bố bà B mất tích. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị TAND thị xã Buôn Hồ chấp nhận yêu cầu của Cơ sở bảo trợ xã hội C, tuyên bố bà B mất tích.
Xét thấy bà Nguyễn Thị B đã đi khỏi nơi cư trú Cơ sở bảo trợ xã hội C từ tháng 12 năm 2012 cho đến nay không có tin tức gì. Cơ sở bảo trợ xã hội C đã đi tìm kiếm và TAND thị xã Buôn Hồ đã dùng các biện pháp thông báo tìm kiếm bà B theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì của bà B hiện đang cư trú, sinh sống ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Cơ sở bảo trợ xã hội C tuyên bố bà B mất tích là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 67, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về chi phí nhắn tin: Người yêu cầu là Cơ sở bảo trợ xã hội C phải chịu chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm người vắng mặt là 901.250đ (Cơ sở bảo trợ xã hội C đã nộp và chi phí xong).
[5] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu là Cơ sở bảo trợ xã hội C phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 35, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu của Cơ sở bảo trợ xã hội C.
Tuyên bố bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949 mất tích.
- Về chi phí nhắn tin: Người yêu cầu là Cơ sở bảo trợ xã hội C phải chịu 901.250 đồng tiền thông báo tìm kiếm người vắng mặt (Ghi nhận việc người yêu cầu đã nộp và chi phí đủ).
- Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Cơ sở bảo trợ xã hội C phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai số 0003728 ngày 10/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND thị xã Buôn Hồ; - THADS thị xã Buôn Hồ; - UBND phường T; - Lưu hồ sơ, Vp. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trần Duy Đức |