vanban.org

Quyết định 19/2017/QĐ-GQVDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 18/10/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn của bà Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố: Ông Đặng Văn V, sinh năm : 1958 Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú cuối cùng: tập thể 190 L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội và tại số 10 V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y- V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn của bà Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật dân sự Tòa án xác định ngày đầu tiên
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----- *** ------
Số: 19/ 2017/ QĐ - GQVDS
V/v: Tuyên bố một người mất tích

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG

Với thành phần phiên họp giải quyết việc dân sự:

Chủ toạ phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Chức vụ: Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lài- Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Hảo - Kiểm sát viên

Ngày 18/10/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng – thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 41/2017/TLST- VDS ngày 03/4/2017 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo quyết định mở phiên họp số 20/2017/QĐ-MPH ngày ngày 27 tháng 9 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1959

ĐKHK và hiện ở tại: P503F5 (Số cũ: F2 gác 3, phòng 62) , tập thể 190 Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Có mặt tại phiên họp

Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với:

Ông Đặng Văn V, sinh năm 1958 Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú cuối cùng: tập thể 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội và số 10 V, phường L, quận H, Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên họp

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

2.1. Chị Đặng Thùy T1 – sinh năm: 1982

2.2. Chị Đặng Hà M1 – sinh năm: 1990

2.3. Đặng Thùy M2 – sinh năm: 1990

ĐKHK và ở tại: tập thể 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội

chị T, chị Hà M1, chị Thùy M2 xin vắng mặt tại phiên họp

3.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

3.1 Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bà Nguyễn Thị Y trình bày:

Tôi kết hôn với ông Đặng Văn V ngày 01/10/1981, trước khi kết hôn tôi và ông Đặng Văn V làm cùng công ty. Sau khi kết hôn, tôi và ông V ở tập thể 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội. Nhà đó là công ty phân cho tôi. Khi đó, bố mẹ đẻ ông V cũng ở cùng khu tập thể với tôi. Quá trình chung sống với nhau, tôi và ông Đặng Văn V sinh được ba người con là Đặng Thùy T1, Đặng Hà M1 và Đặng Thùy M2. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Do tính cách không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng tháng 4 năm 1992 tôi và ông Đặng Văn V có xảy ra mâu thuẫn trong việc dạy con cái nên ông V đã tự bỏ nhà đi từ đó đến nay ông V không quay về, tôi và các con không có tin tức gì. Thời điểm đó tôi sinh đôi hai cháu Thùy M2 và Hà M1.

Gia đình tôi đã tìm nhiều biện pháp để tìm kiếm ông V như đăng báo, đài nhưng không có tin tức gì của ông V.

Bố chồng tôi là Đặng Văn C đã mất. Sau đó mẹ chồng của tôi tên là T2 cùng em chồng tên là V bán nhà bỏ đi biệt tích ở đâu tôi không biết, từ năm 1990 đến nay tôi và các con không có bất cứ liên lạc gì với nhà chồng. Nên tôi không có thông tin, chứng cứ và tài liệu gì về nhà chồng nộp cho Tòa án.

Từ khi kết hôn với ông V tôi không hề biết địa chỉ tại số 10 V, phường L, quận H, Hà Nội là nhà ai, không biết ông V từng có địa chỉ tại đó.

Đến nay, tôi yêu cầu Tòa án tuyên bố chồng bà là ông Đặng Văn V mất tích. Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì khác.

3.2. Chị Đặng Thùy T1, chị Đặng Hà M1 và chị Đặng Thùy M2 là con gái của ông Đặng Văn V trình bày:

Bố các chị là ông Đặng Văn V và mẹ là bà Nguyễn Thị Y kết hôn với nhau và sinh ra ba chị em là Đặng Thùy T1, Đặng Thùy M2 và Đặng Hà M1. Từ bé, các chị đã không biết bố là ai, chỉ được nghe mẹ các chị và người thân kể lại là bố mẹ các chị sống với nhau không hạnh phúc nên bố đã bỏ nhà đi làm ăn xa từ năm 1992 cho đến nay không quay về. Gia đình đã tìm kiếm bố tôi bằng mọi cách nhưng không có kết quả. Hiện nay, các chị và mẹ vẫn ở tại tập thể 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội. Các chị không biết nhà nội ở đâu vì ông V bỏ đi và không ai bên nhà nội liên lạc với các chị. Chị Đặng Thùy T1, Đặng Thùy M2, Đặng Hà M1 đề nghị Tòa án tuyên bố ông Đặng Văn V là bố các chị mất tích từ khoảng tháng 4 năm 1992. Ngoài ra các chị không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

3.3 Trong quá trình giải quyết việc dân sự

Tòa án đã thu thập chứng cứ tại Công an quận Hai Bà Trưng xác nhận: Ông Đặng Văn V sinh năm 1958 đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội. Tách hộ ngày 05/12/1981 đi thị xã Bắc Ninh ngày 11/11/1985, nhập lại ngày 28/5/1990 và chuyển đến số 10 V ngày 29/9/1992.

Công an phường Lê Đại Hành quận Hai Bà Trưng cung cấp: Ông Đặng Văn V sinh năm 1958 đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội. Tách hộ ngày 05/12/1981 đi thị xã Bắc Ninh ngày 11/11/1985, nhập lại ngày 28/5/1990 và chuyển đến số 10 V ngày 29/9/1992. Nhưng hiện nay tại số 10 V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội không có ông Đặng Văn V sinh sống.

Công an phường Đống Mác, quận Hai Bà Trưng cung cấp: Ông Đặng Văn V đã cắt hộ khẩu tại tập thể 190 L, phường Đquận H, Hà Nội từ ngày 29/9/1992 đi đâu không rõ. Ông Đặng Văn V hiện nay không sinh sống tại địa chỉ trên.

Tòa án đã ra Thông báo tìm kiếm ông Đặng Văn V đăng trên Báo nhân dân, Đài tiếng nói Việt Nam theo quy định nhưng hết thời hạn thông báo không có tin tức gì về ông Đặng Văn V.

Tại phiên họp: Bà Nguyễn Thị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án tuyên bố ông Đặng Văn V mất tích. Ngoài ra bà không có yêu cầu nào khác.

Chị Đặng Thùy T1, chị Đặng Hà M1 và chị Đặng Thùy M2 có đơn xin vắng mặt nên Tòa án công bố lời khai của các chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng, quá trình giải quyết việc dân sự: Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng. Về thu thập chứng cứ và thời hạn chuẩn bị mở phiên họp đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự, thời hạn mở phiên họp đúng thời hạn. Về tống đạt các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Hồ sơ đủ điều kiện để Tòa án mở phiên họp và ra quyết định tuyên bố một người mất đã mất tích.

Căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng và các tài liệu, chứng cứ liên quan có trong hồ sơ:

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng nhận định:

1.

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Y gửi đơn đến Tòa án, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đặng Văn V mất tích. Xét bà Y và ông V là vợ chồng nên bà Y có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố ông V mất tích theo quy định tại điều 68 Bộ luật dân sự.

2.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Y và ông Đặng Văn V kết hôn với nhau tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 10 năm 1981 tại UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Sau đó bà và ông V sinh được ba người con là Đặng Thùy T1, sinh năm 1982 , Đặng Hà M1 và Đặng Thùy M2 cùng sinh năm 1990. Quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Y và Đặng Văn V thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên ông V đã bỏ nhà đi từ năm 1992 đến nay không về, gia đình không có tin tức gì.

Bà Y đã thông báo tìm kiếm tin tức của ông V 03 lần trong 03 số báo liên tiếp trên Báo Nhân dân và nhắn tìm tin tức ông Đặng Văn V trên Đài tiếng nói Việt Nam nhưng cho đến nay vẫn không có tin tức gì về ông Đặng Văn V.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của ông V và tiến hành làm việc với gia đình ông V nhưng đều xác định là không biết tin tức gì về ông V. Công an phường Lê Đại Hành và công an phường Đống Mác – nơi cư trú cuối cùng của ông V cũng xác định: Ông Đặng Văn V, sinh năm 1958 đăng ký hộ khẩu thường trú tại tập thể 190 L, phường Đ, quận H, Hà Nội, tách hộ ngày 05/12/1981, đi thị xã Bắc Ninh ngày 11/11/1985, nhập lại ngày 28/5/1990 và chuyển đến số 10 V ngày 29/9/1992. Hiện nay, ông Đặng Văn V không có mặt tại địa chỉ trên, đi đâu không rõ từ năm 1992 đến nay.

Xét thấy: Ông V đã đi khỏi nhà từ năm 1992 và gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông V còn sống hay đã chết. Nay bà Y yêu cầu Tòa án tuyên bố ông V mất tích. Bà Y không xác định được thời gian ông V đi cụ thể ngày nào mà chỉ nhớ khoảng tháng 4 năm 1990 ông V bỏ đi. Nhưng công an quận Hai Bà Trưng cung cấp ngày 29/9/1992 ông Đặng Văn V nhập hộ khẩu đến số 10 V, phường L, quận Hthành phố Hà Nội. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 điều 68 Bộ luật dân sự Tòa án xác định ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng của ông V là ngày mùng 01 tháng 01 năm 1993 để xác định thời điểm ông V mất tích. Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự yêu cầu tuyên bố mất tích: bà Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

- Căn cứ vào điều 68 Bộ luật dân sự

- Căn cứ vào Điều 27, Điều 149, Điều 370, 371, 372, 389 Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận đơn của bà Nguyễn Thị Y về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

Tuyên bố: Ông Đặng Văn V, sinh năm : 1958

Đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú cuối cùng: tập thể 190 L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội và tại số 10 V, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Mất tích kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1993.

2 . Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu số 0002434 ngày 09 tháng 3 năm 2017 của chi cục thi hành án dân sự Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

3. Bà Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định.

Chị Đặng Thùy T1, chị Đặng Hà M1 và chị Đặng Thùy M2 có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.

Cỡ chữ