- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "ĐĂNG-TRANG"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 189/2023/QĐST-DS Ngày: 06-9-2023 “V/v: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” |
UY T Đ NH
SƠ THẨM GI I UY T VIỆC D N S
Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NH N D N HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Long
Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Hoài – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 99/2023/TLST-VDS ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 1329/2023/QĐST-VDS ngày 21 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Võ Hải Đ, sinh năm 1985 (Có mặt).
Địa chỉ: đường Nguyễn Bình, Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: đường Nguyễn Bình, Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC D N S :
Theo đơn yêu cầu ngày 03/4/2023 và tại phiên họp ông Võ Hải Đăng là người yêu cầu trình bày:
Ông Võ Hải Đăng và bà Phạm Thị Thu Trang là vợ chồng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2009, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 17/4/2009. Sau khi kết hôn, ông Đăng và bà Trang sinh sống tại ấp Thác Lác, xã Hòa An, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Đến năm 2018 thì chuyển về 534 đường Nguyễn Bình, Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống.
Trong quá trình sống chung, vợ chồng ông bà có xảy ra mâu thuẫn do bà Trang vay nợ của nhiều người. Từ cuối năm 2018 bà Trang đã bỏ nhà đi đâu không rõ. Ông Đăng đã tìm kiếm, liên lạc với người thân cũng như thông báo trn6 phương tiện thông tin đại cúng để tìm bà Trang nhưng cũng không có tin tức gì xác thực về việc bà Trang hiện nay đang sinh sống ở đâu, làm việc gì, còn sóng hay đã chết.
Do đó, ông Võ Hải Đăng yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè tuyên bố bà Phạm Thị Thu Trang là người mất tích để làm thủ tục ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè phát biểu ý kiến: Về trình tự, thủ tục tố tụng đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Võ Hải Đăng về việc yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị Thu Trang là người mất tích.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè nhận định:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết việc dân sự:
Ông Võ Hải Đăng yêu cầu tuyên bố bà Phạm Thị Thu Trang là người mất tích, bà Trang có nơi cư trú cuối cùng tại huyện Nhà Bè, do đó đây là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 4 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2009, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã Hòa An, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 17/4/2009 thì ông Võ Hải Đăng và bà Phạm Thị Thu Trang là vợ chồng, có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do đó, ông Đăng là người có quyền, lợi ích liên quan nên có quyền yêu cầu tuyên bố bà Trang là người mất tích theo quy định tại Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ của Công an xã Hòa An, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang thể hiện: Đương sự Phạm Thị Thu Trang sinh năm 1 trư c đây c đăng ký thường trú tại địa phương năm 2016 đến tháng 01/201 . Đương sự đ chuyển khẩu v huyện Lấp V t nh Đ ng Tháp. Hiện tại đương sự không c ở địa phương.
Căn cứ Kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ của Công an xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thể hiện: Đương sự Phạm Thị Thu Trang sinh năm 1 hiện c đăng ký thường trú tại số 1 ấp Vĩnh Bình A
Vĩnh Thạnh huyện Lấp V t nh Đ ng Tháp. Đương sự không c mặt tại địa phương từ năm 201 đến nay.
Căn cứ Kết quả cung cấp tài liệu, chứng cứ của Công an xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: Đương sự Phạm Thị Thu Trang sinh năm 1 hộ khẩu thường trú: Ấp Thác Lác
H a An huyện Gi ng Ri ng t nh Kiên Giang. Không đăng ký thường trú tạm trú tại 534 đường Nguyễn Bình Tổ 4 Ấp 2 Nhơn Đức huyện Nhà Bè Thành phố H Chí Minh. C đăng ký lưu trú tại 534 đường Nguyễn Bình Tổ 4 Ấp 2 Nhơn Đức huyện Nhà Bè Thành phố H Chí Minh từ ngày 21/11/201 đến ngày 21/12/201 . Sau đ không c n cư trú tại địa ch trên đi đâu không rõ.
Căn cứ Biên bản xác minh ngày 14/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè xác minh thông tin cư trú của bà Phạm Thị Thu Trang tại địa chỉ 534 đường Nguyễn Bình, Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh thì chính quyền địa phương và một số hộ dân thể hiện: Đương sự Phạm Thị Thu Trang sinh năm 1 c cư trú tại địa ch 534 đường Nguyễn Bình, Tổ 4, Ấp 2
Nhơn Đức huyện Nhà Bè Thành phố H Chí Minh. Đến khoảng cuối năm 2019 đầu năm 2020 thì bà Trang không c n cư trú tại địa ch trên đi đâu không rõ.
Xét: Ông Đăng đã đăng tin tìm bà Phạm Thị Thu Trang, sinh năm 1989 trên Báo Công lý của Tòa án nhân dân Tối cao 03 số liên tiếp là 28, 29 và 30 vào các ngày 07/4/2023, 12/4/2023 và 14/4/2023. Đồng thời phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp là ngày 27/4/2023, 28/4/2023 và 29/4/2023; Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhưng vẫn không có tin tức gì.
Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “1. Khi một người biệt tích 02 năm li n trở lên mặc dù đ áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật v tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức ác thực v việc người đ c n sống hay đ chết thì theo yêu cầu của người c quy n lợi ích liên quan T a án c thể tuyên bố người đ mất tích”.
Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng v người đ ; nếu không ác định được ngày c tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng c tin tức cuối cùng; nếu không ác định được ngày tháng c tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm c tin tức cuối cùng.
Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để xác định việc bà Trang biệt tích quá 02 năm liền mà không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết nên yêu cầu của ông Võ Hải Đăng đề nghị Tòa án tuyên bố bà Phạm Thị Thu Trang, sinh năm 1989 là người mất tích là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Võ Hải Đăng phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng lệ phí việc dân sự theo quy định pháp luật.
UY T Đ NH:
Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149, Điều 361, Điều 362, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 385, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Võ Hải Đăng.
Tuyên bố bà Phạm Thị Thu Trang, sinh năm 1989 - Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Số 534 đường Nguyễn Bình, Tổ 4, Ấp 2, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất tích kể từ ngày 21 tháng 12 năm 2019.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do ông Võ Hải Đăng chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng ông Đăng đã nộp theo Biên lai thu số 0003565 ngày 31/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND huyện Nhà Bè; - CCTHADS huyện Nhà Bè; - UBND xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Ngọc Long |